Dành cho du khách

 
Dành cho du Khách

Lễ cấp sắc - Tết nhảy của người Dao quần chẹt làng Thành Công

Làng Thành Công, xã Lãng Công, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc hiện có 193 hộ với 848 nhân khẩu là tộc người Dao quần chẹt đang sinh sống, phát triển.

Tộc người Dao sinh sống ở Việt Nam có nhiều ngành, với nhiều tên gọi khác nhau. Theo các nhà nghiên cứu, tên gọi “Dao quần chẹt” bắt nguồn từ đặc điểm chiếc quần của người nữ Dao có phần ống quần hẹp, bó sát chân, chỉ dài qua đầu gối người mặc, được kết hợp với xà cạp quấn chặt, kín phần bắp chân còn lại.

Theo các bậc cao niên người Dao quần chẹt làng Thành Công kể lại thì vào năm 1890 (Canh Tý) có một nhóm người Dao quần chẹt từ tỉnh Hòa Bình (Việt Nam) đã di cư đến làng Thành Công, xã Lãng Công sinh cơ lập nghiệp. Từ đó đến nay, trải hơn một thế kỷ, cùng với đồng bào các dân tộc anh em, tộc người Dao quần chẹt làng Thành Công, xã Lãng Công đã đoàn kết, gắn bó, chung sức xây dựng cuộc sống ngày càng ổn định, bền vững. Bên cạnh những thành quả vật chất, bà con đã xây dựng, gìn giữ được những giá trị tinh thần quý giá, đó là một kho tàng văn hóa truyền thống với những lễ thức, thuần phong, mỹ tục độc đáo, đặc sắc. Trong đó, phải kể đến lễ cấp sắc và tết nhảy.

Lễ cấp sắc

Cấp sắc (quá tăng, cấp đèn, chẩu đàng) là một trong những nghi lễ tối quan trọng, một tục lệ không thể thiếu trong vòng đời người Dao nói chung cũng như người Dao ngành quần chẹt làng Thành Công, xã Lãng Công, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng. 

Lễ cấp sắc của người Dao có nhiều tên gọi khác nhau. Người Dao quần chẹt Vĩnh Phúc gọi lễ cấp sắc là “chẩu đàng” hay “quá tăng”. “Chẩu đàng” (có nghĩa là “làm đường”), để chỉ các cách thức/thủ tục tiến hành buổi lễ với sự kết hợp tổ chức các nghi lễ cùng được thực hiện trong một lần thực hiện bao gồm: Lễ tạ ơn Bàn Vương và lễ “thụ đèn” - công nhận một con người đã trưởng thành; còn “quá tăng” tức là lễ đặt pháp danh/tên âm cho một người nam ngành Dao quần chẹt đã có vợ con, gia đình riêng.

Ở các ngành Dao, nhóm Dao khác nhau, lễ cấp sắc được gọi với những tên gọi khác nhau. Người Dao tiền Hòa Bình gọi lễ cấp sắc là “lễ lập tính”, hay “lập tịch”, “lập tỉnh”, có nghĩa là “làm cho trong sạch”, giúp tiêu tan đi mọi tội lỗi, dơ tục trong con người được cấp sắc. Với người Dao đầu bằng, lễ cấp sắc được gọi là “lễ tủ cải” (lễ đặt tên mới cho người con trai từ 13 tuổi trở lên); người Dao quần trắng Tuyên Quang gọi lễ cấp sắc là “chay xấy” (thụ lễ, lên đèn); người Dao Thanh Phán gọi là “lễ qua/quá tang” (“qua”: từng trải, đã được thử thách; “tang”: chỉ đèn hoặc vật dùng để thắp sáng (nến) nhằm soi sáng cho người thụ lễ trong suốt quá trình tiến hành lễ cấp sắc).

Ở mỗi ngành tộc Dao khác nhau, độ tuổi, một vài tiêu chuẩn về người được làm lễ cấp sắc có sự khác nhau. Người Dao tuyển Bảo Thắng (Lào Cai) quy định tuổi cấp sắc cho một nam nhân là từ 10 - 17 tuổi; người Dao họ ở Bảo Thắng là từ 17 tuổi trở lên; người Dao tuyển (Dao áo dài) Mèo Vạc (Hà Giang) là từ 11 - 20 tuổi; người Dao tiền ở Ba Bể (Bắc Kạn) là 10 - 18 tuổi…

Theo các nhà nghiên cứu, lễ cấp sắc là một sinh hoạt tín ngưỡng phổ biến, có tính chất bắt buộc đối với tất cả những người đàn ông Dao; được thể hiện qua việc đối tượng được thụ lễ nhận một “chứng chỉ’ gọi là “sắc”. Muốn được nhận “sắc”, người thụ lễ phải trải qua một hệ thống những nghi lễ do các ông thầy cúng thực hiện. Những nghi lễ này được thực hiện trong một “không gian thiêng”, “thời gian thiêng” với sự chứng kiến của các bậc thần linh và cộng đồng. Tất cả mọi người đàn ông Dao đều phải trải qua nghi lễ này, người Dao quần chẹt Vĩnh Phúc cũng vậy. Người nào khi còn sống vì một lý do nào đó chưa thực hiện được lễ cấp sắc thì khi tạ thế, con cháu phải tổ chức lễ cấp sắc cho người đã chết trước khi làm lễ cấp sắc cho mình.

Lễ cấp sắc còn mang ý nghĩa như một “lễ khai sinh” của người đàn ông Dao quần chẹt Vĩnh Phúc. Thông qua nghi lễ này, người đàn ông Dao được nhận tên âm do thánh thần ban cho. Tên này chỉ được dùng khi hành lễ, cúng bái. Bản “sắc” mà mỗi người đàn ông Dao được nhận sau lễ cấp sắc được xem như một “giấy thông hành” đặc biệt cho chính người đó, để sau khi tạ thế, linh hồn được về ngay với thế giới bên kia mà không phải chịu cảnh đày đọa nơi âm phủ.

Nói cách khác, lễ cấp sắc của người Dao quần chẹt làng Thành Công là lễ trưởng thành (là nghi lễ bắt buộc) cho người đàn ông khi đã có vợ, con, là người có đủ điều kiện, khả năng, am hiểu phong tục tập quán của làng, tộc; thực hành thành thạo mọi công việc theo truyền thống người Dao, trong nhà đã có bàn thờ ông bà, tổ tiên.

Thông qua lễ cấp sắc, người đàn ông Dao quần chẹt Vĩnh Phúc được các ông thầy truyền dạy 10 độ, 10 điều răn, 10 điều kiêng cấm, 10 lời thề mang ý nghĩa giáo dục, hướng con người tới điều tốt đẹp, làm người ngay thẳng, dũng cảm, không ham mê sắc dục, không vụ lợi, sẵn sàng giúp đỡ người khác.

Với đồng bào Dao quần chẹt Vĩnh Phúc, bà con luôn tin rằng: Khi người đàn ông trong gia đình, dòng họ được cấp sắc, thì gia đình, dòng họ mới làm ăn may mắn, phát đạt, cuộc sống hanh thông, tốt đẹp.

Thời gian tiến hành làm lễ cấp sắc thường tổ chức vào đầu năm (tháng Giêng, tháng Hai âm lịch) hoặc cuối năm (tháng 11, tháng Chạp âm lịch).

Lễ cấp sắc bao gồm khoảng 15 bước (công đoạn) chính, từ lễ đón thày cho đến lễ trả ơn Bàn Vương, không kể nhiều công việc phải chuẩn bị lâu dài từ trước đó. Thời gian thực hiện các nghi lễ từ khi bắt đầu cho đến khi hoàn tất là 3 ngày 2 đêm, (trước đây lễ cấp sắc kéo dài nhiều ngày, đêm hơn, về sau bà con rút gọn, lược bỏ những thủ tục rườm rà, kéo dài, mà nghi lễ vẫn đảm bảo sự trang trọng với đầy đủ mọi công đoạn).

Lễ vật đặc biệt cần có trong lễ cấp sắc được đánh một cái tên âm, hai miếng vài vuông trắng, một miếng dài 6 thước 6, một miếng dài 7 thước 2 và một con dấu (chiện) của ông thầy cúng  (thày cả) ban cho người được cấp sắc (còn gọi là con hương), công nhận người đó đã trưởng thành. Sau khi được thụ lễ, người đàn ông mới chính thức được tổ tiên và các vị thần linh chứng nhận, mới có đủ điều kiện, được tham gia vào các lễ cúng, đủ tư cách nói chuyện với các vị thần linh, khi mất đi linh hồn sẽ được nhập vào bàn thờ ông bà, tổ tiên. Người được cấp sắc cũng sẽ được truyền cho pháp thuật bảo vệ cơ thể và đặc biệt có thể trở thành thầy cúng. Bên cạnh đó, lễ cấp sắc còn có tính giáo dục con người rất lớn, thể hiện qua những lời giáo huấn hướng con người tới việc thiện, không làm điều ác. Các lời giáo huấn được người được cấp sắc thề (hứa) dưới sự chứng kiến của tổ tiên và các quan âm binh nên việc thực hiện theo càng có giá trị.

Trong ba ngày lễ, các thầy cúng sẽ dạy cho người được cấp sắc các điệu nhảy, điệu múa, các hình thức lễ nghi thờ cúng tổ tiên, người cấp sắc năm trước phải hứa trước bàn thờ tổ tiên là năm sau sẽ làm cấp sắc. Trong lễ cấp sắc sẽ có 7 thầy mo làm nhiệm vụ cúng cấp sắc được sắp xếp theo các cấp bậc.

Theo quy tắc của đồng bào Dao quần chẹt Vĩnh Phúc, trong khoảng thời gian 2 tháng, gồm cả trước và sau khi thực hiện lễ cấp sắc, thì thày cúng (thày tào, ông mo) và vợ chồng người thụ lễ (con hương)phải luôn giữ mình sạch sẽ về mọi bề, không nói tục chửi bậy, không ăn thức ăn hôi tanh, không được tiếp xúc với những thứ dơ bẩn. Bắt đầu từ thời điểm đi mời thầy tào, người chuẩn bị thụ lễ cấp sắc phải kiêng kỵ, không được ăn những thứ dùng để cúng, không được quan hệ vợ chồng hay tơ tưởng đến nữ giới, kiêng các con vật chó, mèo, bước đầu phải có kiến thức nhất định, hiểu biết và nắm được các nghi lễ, công đoạn trong lễ cấp sắc. Đặc biệt, trong thời kỳ trai giới, cấm những người khác giới đụng chạm vào thân thể vợ chồng người thụ lễ. Khi đi vệ sinh phải có sự giám sát và được thầy đưa đi. Sang ngày lễ thứ hai thì gia đình, vợ chồng người đực cấp sắc phải ăn chay và ăn kiêng. Đến ngày lễ thứ ba, gia đình người được cấp sắc phải làm một mâm cơm cúng, tiếp lễ 7 ông thầy, để các thầy căn dặn những công việc thờ cúng tổ tiên.

Lễ cấp sắc giúp người đàn ông người Dao quầ chẹt làng Thành Công nhận thức đúng đắn về bản thân, về cách sống, nhân cách đạo đức, có trách nhiệm đối với gia đình và xã hội. Không những vậy, lễ cấp sắc còn thể hiện khát vọng của đồng bào về một cuộc sống ấm no, sung sướng và tràn đầy hạnh phúc, chứa đựng những giá trị nhân bản mang tính hướng thiện và có ý nghĩa giáo dục vô cùng sâu sắc, thắt chặt tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái của người Dao.

 

Tết nhảy

Tết nhảy (tiếng Dao là “Nhìang chầm đao”) của người Dao quần chẹt thôn Thành Công, xã Lãng Công thường được tổ chức vào đầu mùa Xuân để tạ ơn tổ tiên, Bàn Vương và cầu mong cuộc sống an lành, hạnh phúc. Theo phong tục của người Dao, một gia đình người Dao sau khi lập được bàn thờ hương hỏa tổ tiên thì bắt buộc phải trải qua từ 10 đến 12 cung đoạn (công đoạn) theo từng họ tộc hay còn gọi là từ 10 - 12 bước phải làm thì mới được tổ chức tết nhảy. Tết nhảy là để khao binh, khao tướng, biến báo cho thần linh, thủy tổ, Bàn Vương được biết. Sau khi tổ chức được tết nhảy thì mới chứng tỏ bàn thờ nhà đó được hoàn thiện. Đây là quy định bắt buộc, đã có từ xa xưa của tộc người Dao.

Về sự tích, nguồn gốc tết nhảy, đồng bào Dao thường truyền kể câu chuyện về sự gia hộ của Bàn Vương và tổ tiên trong cơn hoạn nạn xa xưa. Chuyện kể rằng trong chuyến vượt biển đi tìm đường sống của 12 họ Dao, khi nguy nan nhất mực, cận kề sóng to gió lớn của biển cả, người Dao trong chuyến thuyền bè bão táp đó đã cầu khấn Bàn Vương và tổ tiên phù hộ cho tai qua nạn khỏi và hứa sẽ làm lễ tạ ơn cứu độ. Lời cầu linh ứng, kể từ đó người Dao tổ chức tết nhảy để thể hiện lòng biết ơn với tổ tiên và Bàn Vương đã cứu mạng ngoài biển khơi, luyện âm binh để bảo vệ cuộc sống gia đình, dòng tộc, cầu xin tổ tiên độ trì, che chở cho gia đình, bản làng mạnh khỏe làm ăn tấn tới. Người Dao cho rằng Bàn Vương đứng đầu các nhánh tộc người Dao, là vị vua tài giỏi, có sức mạnh vô hình, luôn độ trì, giúp đỡ dân tộc Dao. Thần Bàn Vương được người Dao thờ cúng nhất mực kính trọng và linh thiêng cùng với tổ tiên của người Dao.

Tết nhảy có hai phần chính; được tổ chức trong 3 ngày 3 đêm với nhiều nghi thức dâng lễ Bàn Vương, tổ tiên nhiều đời, ông, bà, cha mẹ đã khuất.

Ở phần lễ, các nghi thức được thực hiện trong tết nhảy của bà con có nhiều điểm khác lạ so với lễ thức của các dân tộc khác như nghi thức thỉnh Ngọc Hoàng, nghi thức triệu hồi âm binh… Lễ vật dâng cúng Bàn Vương, tổ tiên nhiều đời, ông, bà, cha mẹ của người Dao trong tết nhảy gồm gà, lợn, rượu, bánh, quả… Sau khi dâng cúng, phần lễ đó được đem cho con cháu trong dòng họ thụ lộc trong niềm hoan hỉ, vui sướng.

Sau phần lễ, bước sang phần thứ 2, tất cả những người nam tham gia tết nhảy sẽ bước vào phần hội rộn ràng, là ngày hội chung của cả dòng tộc và chòm xóm. Trong tết nhảy, người Dao có màn múa văn và múa võ. Múa văn là vũ điệu con cháu trình diễn để mời ông bà tổ tiên về vui tết nhảy, phù hộ cho gia đình được khang ninh thịnh đạt. Múa võ là những vũ điệu mạnh mẽ, tái hiện quá khứ, tổ tiên người Dao từng phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, kẻ thù vây bủa để vươn lên xây dựng cuộc sống. Những điệu múa, bước nhảy được thực hiện trong tiếng kèn, trống, chiêng, lục lạc… rộn ràng mô phỏng hình ảnh Bàn Vương luyện binh rèn tướng, như điệu múa “bắt ba ba” tái hiện cuộc sống, sự đấu tranh để vượt lên mọi khắc nghiệt của thiên nhiên của người Dao để mưu sinh, tạo dựng cuộc sống no ấm, hạnh phúc. Kết thúc phần hội là màn nhảy múa cộng đồng tưng bừng, sôi động, nhằm chúc tụng, cảm ơn gia chủ đã tổ chức tết nhảy cho dân làng được tận hưởng không khi yên bình, vui vẻ, đoàn kết đầm ấm trong làng ngoài nhà thành công mỹ mãn.

Tết nhảy là nghi lễ quan trọng bậc nhất của người Dao với mong ước con người sẽ vượt qua gian khó, đoàn kết chống lại các thế lực làm hại đến đời sống yên lành và cầu cho mưa thuận gió hòa, nhân khang vật thịnh, cuộc sống yên vui./.

BBT

Ngày đăng: 18/01/2021