Dành cho du khách

 
Dành cho du Khách

Miếu Vũ

Miếu Vũ tọa lạc tại thôn Xóm Làng, xã Bạch Lưu, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; thờ Cúc Hoa công chúa, tương truyền là người có công giúp Hai Bà Trưng đánh giặc Đông Hán thế kỷ đầu nhất sau Công nguyên và ba vị thần: Linh Lang đại vương, Sơn Lang đại vương và Minh Lang đại vương có công âm phù giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân vào thế kỷ X. Tại miếu hiện còn lưu giữ hai quyền thần tích về các vị thần của làng Bạch Lưu Thượng gồm một quyền thần tích về ba vị thần và một quyển thần tích về nàng Cúc Hoa công chúa.

Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng thì thủa trước, ba vị thần Linh Lang, Sơn Lang, và Minh Lang có công âm phù giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn được thờ tại đình Bạch Lưu Thượng, còn Cúc Hoa công chúa được thờ tại miếu Vũ. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đình Bạch Lưu Thượng bị phá hủy, Nhân dân đã rước chuyển long ngai, bài vị các thần từ đình làng đưa về phối thờ tại miếu Vũ. Kể từ đó, miếu Vũ - ngôi miếu thờ Cúc Hoa công chúa có công âm phù giúp Hai Bà Trưng đánh giặc Đông Hán cũng là nơi phối thờ ba vị thần đã âm phù giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân.

Lịch sử hành trạng của Cúc Hoa công chúa

Nước Việt ta khởi dựng từ thời Hùng Vương, trải 2000 năm dưới sự trị vì của 18 đời vua Hùng. Vua Hùng thứ 18 không có con trai nối dõi, Thục Phán An Dương Vương lên trị vì đất nước, sau này bị Triệu Đà dùng mưu mà cướp nước, rồi Triệu bị nhà Đông Hán khuất phục. Vào những năm đầu thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên, dưới sự trị vì của nhà Hán, do chính sách đồng hóa gắt gao và bóc lột hà khắc, đời sống nhân dân vô cùng thống khổ. Các lạc tướng người Việt đã liên kết với nhau để chống lại. Thời ấy, có Trưng Trắc và Trưng Nhị - hai người con gái vốn thuộc dòng dõi vua Hùng, là hào kiệt trong giới nữ lưu. Trưng Trắc kết hôn với Thi Sách cũng thuộc dòng dõi Lạc tướng ở đất Chu Diên. Do chống lại nhà Hán, Thi Sách bị chúng giết hại. Để đền nợ nước, trả thù nhà, Trưng Trắc đã cùng em gái là Trưng Nhị khởi binh chống nhà Hán.

Tháng 2 năm 40 sau Công Nguyên, Trưng Trắc chính thức dấy binh. Bà lập đàn cầu đảo thánh Sơn Tinh cùng bách thần tại cửa sông Hát (Hát Môn) mong được các thần phù trợ đánh đuổi giặc đô hộ. Trong lễ cầu đảo, bỗng thấy một người con gái tuổi chừng 18, y phục chỉnh tề, xinh đẹp như từ tiên cung bước xuống đàn lễ tự xưng là Cúc Hoa công chúa nói rằng: “Ta vốn là con cháu vua Hùng, thường ngày cưỡi thuyền rồng dạo chơi nơi hải đảo ngắm nghía núi sông ở miền trên khu dưới. Khi đến trang Bạch Lưu thấy có thế đất long chầu hổ phục, núi thì cao, nước thì trong, mặt trước có dòng sông Lô án ngữ, mặt sau lại có suối sâu, núi cao cảnh trí rất đẹp nên đến ngự nơi này, nhân dân trong Bạch Lưu Thượng, Bạch Lưu Hạ xin được theo làm thần tử. Nay thấy Trưng Vương cùng dòng dõi nhà Hùng muốn khôi phục cơ nghiệp hồng đồ mà thiết lập đàn cầu đảo bách thần, thiếp xin ra sức âm phù diệt giặc”. Nói xong thì bay lên trời biến mất. Trưng Trắc lấy làm linh dị, biết là được thần che chở giúp sức.

Sau khi làm lễ cầu đảo bách thần, Trưng Trắc và Trưng Nhị cho sắp xếp đội ngũ, tướng nữ chỉ huy nữ binh, tướng nam chỉ huy nam binh. Quân khởi nghĩa đi đến đâu được Nhân dân ở đó hết lòng ủng hộ. Nhờ vậy mà quân địch nhanh chóng tan rã. Trưng Trắc cùng quân sĩ dẹp tan giặc Tô Định, thu về 65 thành trì. Đuổi xong giặc Đông Hán, Trưng Trắc lên ngôi vua, xưng là Trưng Nữ vương, gia phong cho các tướng sĩ có công và bách thần đã âm phù giúp sức. Cúc Hoa công chúa được gia phong là Cúc Hoa nương hiển linh công chúa, lại tặng phong là Nga hằng Uyển mị Trinh thục Phu nhân và ban sắc cho hai khu thượng, hạ trang Bạch Lưu tu sửa miếu điện để thờ phụng.

Trải qua các triều đại phong kiến về sau, thần Cúc Hoa lại có công âm phù diệt giặc nên được các đời vua từ triều Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê gia phong mỹ tự và ban sắc, phong cho Nhân dân Bạch Lưu đời đời hương khói.

Để tưởng nhớ công đức của Cúc Hoa công chúa, dân làng Bạch Lưu Thượng đã lập miếu phụng thờ, quanh năm khói hương thành kính. Truyền rằng, miếu thờ rất linh ứng.

Lịch sử hành trạng ba vị thần được thờ tại đình Bạch Lưu Thượng

Sau khi Ngô Quyền (897 - 944) qua đời, các sứ quân nổi lên, khiến đất nước lâm vào thời kỳ loạn 12 sứ quân. Thời đó, tại động Hoa Lư (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) có Đinh Bộ Lĩnh (924 - 979), thủa nhỏ vốn nghe học mà biết, thấy tiếng mà xét, là bậc mưu lược hiền tài, thường cùng trẻ mục đồng chơi trò trận giả, lấy bông lau làm cờ, chia làm tướng sĩ, vua tôi. Đến khi trưởng thành, gặp lúc có loạn 12 sứ quân thời Hậu Ngô. Đinh Bộ Lĩnh tập hợp binh mã, lại tuyển các người tài giỏi, văn võ kiêm toàn, phong làm tướng, chỉ huy binh sĩ các đội, tiến đánh các sứ quân để thống nhất đất nước. Một hôm, Đinh Bộ Linh dẫn quân tiến theo dòng Nhĩ Hà, Lô giang, tới phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây, huyện Lập Thạch. Khi đến bến Bạch Lưu Thượng, thấy có ngôi miếu, Đinh Bộ Lĩnh cho quân lập đàn cầu khẩn mong được thần miếu phù trợ. Tối đó, khi đang nghỉ tại miếu, Tiên Hoàng chợt thấy ba ông lão mũ áo chính tề, hình dung cổ quái đi vào và nói: “Chúng ta vốn là con cháu vua Hùng, vâng mệnh thiên đình trông coi ở miếu này. Một là Uy Linh tức chi thần, hai là Bản cảnh Liên Sơn chi thần, ba là Bản cảnh Minh tức chi thần. Được trời đất sắp đặt đến ra mắt vua xin âm phù, dương trợ, tự nguyện theo quân đánh giặc, dẹp loạn 12 sứ quân”. Nói xong, ba ngài bay lên trời biến mất. Đến đây Tiên Hoàng tỉnh giấc biết là có các thần báo mộng. Sáng ra, ông bèn mời các phụ lão trong trang đến kể lại giấc mộng. Các phụ lão cả kinh, tường trình về các vị thần được thờ tại miếu. Nghe xong, Đinh Tiên Hoàng tặng cho dân trang 3 hốt bạc để tu sửa đền miếu và phụng thờ các thần.

Lại nói, từ khi được thần báo mộng, quân của Đinh Tiên Hoàng đánh đâu thắng đó, các cánh quân còn lại nghe sự mà thần phục, từ đó thiên hạ được thái bình, quốc gia vô sự. Đất nước thống nhất, Đinh Tiên Hoàng lên ngôi xưng hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, kinh đô đóng tại vùng Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình ngày nay). Sau khi lên ngôi, Đinh Tiên Hoàng ban thưởng cho tướng, sĩ có công, gia phong cho bách thần đã phù trợ, lại truyền ban sắc, gia phong cho ba vị thần tại Bạch Lưu Thượng. Phong cho vị thứ nhất là Uy Linh tức Hiển ứng Đại vương, tặng phong “Tế thế Hộ quốc Khang dân Phù vận Đại vương thượng đẳng thần”;

Phong cho vị thứ hai là Liên Sơn Hiển ứng Đại vương;

Phong cho vị thứ ba là Minh tức Hiển ứng Đại vương.

Trải đến các triều đại nhà Trần, thời vua Trần Nhân Tông (1258 - 1308), gặp lúc giặc Nguyên Mông sang xâm lược, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn vâng mệnh vua làm lễ cầu đảo bách thần. Các thần lại hiển linh, âm phù giúp vua dẹp giặc. Giặc Nguyên Mông bại trận, đất nước thanh bình, để nhớ ơn đức ba vị, vua Trần đã gia phong mỹ tự cho các thần. Gia phong cho vị thứ nhất là Uy Linh tức Linh quang Hộ quốc Quảng đại Cao minh; Gia phong cho vị thứ hai là Liên Sơn bảo cảnh Hiển hựu Đại vương; Gia phong cho vị thứ ba là Minh tức Tế thế Trợ thuận Đại vương.

Về sau các Triều Hậu Lê, Nguyễn đều ban sắc phong thần và chuẩn cho nhân dân làng Bạch Lưu Thượng phụng thờ các vị. Để tưởng nhớ công đức các vị thần có công đánh giặc cứu nước. Nhân dân làng Bạch Lưu Thượng đã tu sửa đền miếu, suy tôn các thần là thành hoàng làng, lập đình thờ phụng. Sau này, khi ngôi đình Bạch Lưu Thượng bị phá hủy, dân trang đã rước thần hiệu, bài vị các thần về thờ tự tại miếu Vũ, quanh năm bốn mùa nghiêm trang thờ phụng, khói hương không dứt.

Lịch sử xây dựng miếu Vũ

Ngôi miếu Vũ có lịch sử xây dựng từ lâu đời. Tương truyền, sau khi Cúc Hoa Công chúa âm phù giúp Hai Bà Trưng đánh thắng giặc Đông Hán, Nhân dân đã tu sửa miếu, cung kính thờ phụng thần. Năm 1933, miếu Vũ được xây dựng lại với quy mô gồm ba gian tiền tế, một gian hậu cung và tồn tại cho đến ngày nay. Năm 2016, khuôn viên di tích được cải tạo, các công trình phụ trợ như nhà sắp lễ, ao sen, hệ thống sân vườn… được xây dựng khang trang. Ngôi miếu dù có quy mô nhỏ nhưng vẫn giữ được kiến trúc truyền thống, với dáng vẻ cổ kính, uy linh.

Kiến trúc cổ

Miếu Vũ nhìn theo hướng Tây, tọa lạc tại vị trí giáp đê tả sông Lô với quy mô hai tòa, gồm ba gian tiền tế, một gian hậu cung, kiến trúc theo lối tường hồi bít đốc. Tòa tiền tế có kích thước 6,4m x 2,8m, hậu cung có kích thước 3,4m x 2,14m, diện tích sử dụng của miếu là 24m2. Toàn bộ ngôi miếu được kết cấu gồm 10 cột chịu lực (6 cột mới làm lại bằng bê tông, 4 cột cũ bằng gỗ). Các bộ vì liên kết với nhau theo kiểu chồng rường con nhị. Các cấu kiện như xà, các bộ vì nóc, hoành, rui được kết cấu bằng gỗ, gia cố chắc chắn. Nền miếu lát gạch đỏ, các cửa ra, vào được thiết kế theo kiểu bức bàn, mái lợp ngói mũi truyền thống. Các thành phần kiến trúc được bào trơn đóng bén, không chạm trổ cầu kỳ.

Các cổ vật còn lưu giữ được trong di tích

Miếu Vũ còn lưu giữ được một số cổ vật có giá trị, gồm:

- Ba long ngai cùng bài vị đặt ở hậu cung. Các ngai thờ có kích thước bằng nhau, cao 93cm, đế ngai dài 56cm, rộng 40cm;

- Ba bài vị cao 90cm, rộng 24cm;

- Hai nghê đá đặt ở hậu cung cao 50cm;

- Hai bát hương đá đặt ở hậu cung, có kích thước bằng nhau, cao 30cm, đường kính 30cm;

- Ba mâm ấu đặt ở tiền tế, cao 44cm, đường kính 60cm;

- Một hoành phi dài 145cm, rộng 64cm đặt ở tiền tế, khắc ba đại tự bằng chữ Hán: “Chí tài khôn”;

- Một đôi câu đối đặt ở tiền tế, dài 160cm, rộng 23cm với nội dung:

Tạm dịch:

Tiền ca lộ thủy nhân y lạc

Phát thiên đặc lập kết thường hàn.

Có nghĩa là:

Vui cùng sông nước dân an lạc

Dưới trời đắc địa vẹn nhân tài.

- Hai nghê đá dựng trên đỉnh cột đồng trụ cao 53cm;

Ngoài ra, trong miếu còn lưu giữ một số hiện vật mới bổ sung sau này, gồm:

- Một án thờ cao 133cm, dài 194cm, rộng 180cm;

- Hai lục bình, cao 40cm;

- Năm bát hương bằng gốm sứ, cao 18cm, đường kính 22cm.

Sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của di tích:

Theo các tư liệu khảo sát và lời kể của nhân dân địa phương, đặc biệt là những người cao tuổi có am hiểu về các tục lệ truyền thống của làng Bạch Lưu Thượng và bản kê thần tích, thần sắc làng Bạch Lưu Thượng, thì ngày trước, hằng năm làng Bạch Lưu Thượng xưa có 3 kỳ tế lễ chính gồm:

- Ngày mùng 3 tháng Giêng (âm lịch): Tiệc cầu đinh (Tổ chức chính tại đình Bạch Lưu Thượng).

- Ngày mùng 6 tháng Chạp (tháng 12 âm lịch): Kỷ niệm ngày thần hiện (Ba vị thần thờ tại đình, nghi lễ được tổ chức chính tại đình Bạch Lưu Thượng).

- Ngày mùng 10 tháng Tám (âm lịch): Kỷ niệm ngày thần hiện (Cúc Hoa Công chúa, lễ thức được tổ chức chính tại miếu Vũ).

Trước đây, các kỳ lễ tiệc đều được tổ chức linh đình với đầy đủ các nghi thức rước, tế, ca hát. Đặc biệt những người dự vào việc tế lễ phải là những quan viên, chức việc được làng chọn lựa theo quy định, vơ chồng song toàn, gia đình phong lưu, không có tang cớ. Đồ lễ trong các ngày lễ tiệc gồm ván xôi, gà, hoa quả, thịt lợn đen. Tiền tu sửa lễ thì bổ cho hương ẩm trong làng đóng góp, sau khi làm lễ thì tán lộc, chia cho hương ẩm và các cụ trong làng. Ngày nay, các kỳ lễ tiệc vẫn được duy trì đầy đủ tuy nhiên hình thức đã giản lược chỉ tổ chức lễ dâng hương tại di tích, không còn tổ chức rước, tế, văn nghệ dân gian.

Giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, mỹ thuật của di tích

Miếu Vũ là công trình tín ngưỡng, tâm linh của Nhân dân thôn Mật xa xưa, nay là hai thôn Xóm Làng và Anh Dũng, thờ Cúc Hoa Công chúa có công âm phù giúp Hai Bà Trưng đánh giặc Đông Hán thời kỳ đầu Công nguyên và phối thờ ba vị thần hoàng làng Bạch Lưu Thượng là Lưu Linh đại vương, Sơn Lang đại vương và Minh Lang đại vương có công âm phù giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân vào thế kỷ X. Trải qua nhiều thăng trầm, mưa nắng, ngôi miếu vẫn giữ được kiến trúc cổ, với nhiều cổ vật có giá trị; vừa có chức năng thờ thần, là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, đồng thời còn là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng của Nhân dân, nơi giáo dục truyền thống, tôn vinh những đóng góp, công lao của các thế hệ người dân địa phương giúp hậu thế hiểu biết và noi theo.

Miếu Vũ được Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh năm 2017.

BBT

Ngày đăng: 18/01/2021