Dành cho du khách

 
Dành cho du Khách

Đình Thụy Điền

Đình Thụy Điền thuộc thôn Thụy Điền xã Tân Lập, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Đình Thụy Điền là nơi thờ ba vị thành hoàng làng có hiệu là Đông Hải, tương truyền là dòng dõi võ tướng có công giúp nhà Tiền Lý đánh giặc Lương.

Ngày xưa nước Việt ta thời thuộc Lương, ở hương An Xá, huyện Thượng Hiền, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam (nay là vùng đất Nam Định) có gia đình họ Cao, tên húy là Long. Tổ tiên ông Long thụ phong, nối đời hưởng ấm, lấy bà họ Lã, tên húy là Ban, người cùng quê. Bà Lã Ban nhiều đời theo đường thi lễ, thuộc dòng dõi trâm anh, thực là môn đăng hộ đối mà kết duyên với nhau vậy. Vào một đêm, bà Lã mộng thấy một ông già mặc áo đỏ, đeo ngọc châu, thân thể rất kỳ dị, tay cầm một cành đào có ba quả, đi từ phía trước đến trao cho bà, rồi bảo bà ăn. Lã bà nhận đào rồi ăn, trong chốc lát bà cảm thấy sợ hãi liền tỉnh giấc mới biết là mình nằm mộng. Bà kể lại giấc mộng với chồng, ông liền bảo đây ắt là điềm lành. Từ đó, bà họ Lã mang thai, đến ngày 13 tháng Giêng năm Bính Ngọ, bà sinh được một bọc có ba người con trai, dung mạo khôi ngô, tuấn tú. Khi lên ba tuổi đã biết lễ nghĩa, thường hay kính nhường, chỉ nghe đọc mà biết âm luật để thẩm bình. Cả ba anh em rất khó phân biệt ai là anh, ai là em. Ông bà Long, Lã lại càng thêm yêu quý đặt tên cho các con là Đông Hải.

Năm các ông 16 tuổi, thiên tư dĩnh dị, lực học tinh thông, thuộc làu binh thư và rất giỏi võ nghệ, tay chỉ cầm một đòn tre dài mà vạn người cũng không địch nổi. Khi các ông ở tuổi 24 thì cả cha và mẹ đều nối nhau qua đời, ba ông chọn thế đất tốt, làm lễ an táng phụng thờ cha mẹ giữ theo nghi thức thường lệ mà thực hành.

Sau ba năm để tang cha, mẹ, lúc đó Lý Bí (503 - 548) vốn người đất Thái Bình, phủ Long Hưng, từ nhỏ đã tỏ ra là một người thông minh, đến năm 7 tuổi Lý Bí đã mồ côi cả cha lẫn mẹ, ông đến ở với người chú ruột, sau lại được một vị pháp tổ thiền sư đưa về chùa nuôi dạy. Nhờ tư chất thông minh lại chịu khó học hỏi, khi lớn, Lý Bí đã trở thành người học rộng, hiểu sâu, có tài văn võ song toàn và được tôn làm thủ lĩnh địa phương, sau lại được Thứ sử Tiêu Tư nhà Lương mời ra làm quan tới chức Giám quân ở Đức Châu, thuộc châu Cửu Đức (tức vùng đất Đức Thọ, Hà Tĩnh ngày nay). Khi đó Thứ sử Giao Châu là Vũ Lâm hầu Tiêu Tư vốn người hà khắc, tàn bạo nên mất lòng người. Lý Bí phẫn chí, bất bình với các quan lại đô hộ tàn ác nên bỏ quan về quê chiêu binh mãi mã chống lại chính quyền đô hộ, đánh đuổi Tiêu Tư ở phía Bắc, dẹp tan quân Lâm Ấp ở phía Nam. Sau khi dẹp Tiêu Tư và quân Lâm Ấp, Lý Bí xuống chiếu tìm người hiền tài ra đánh giặc cứu nước.

Thời bấy giờ ở huyện Thượng Hiền ba anh em ông Đông Hải đã nổi tiếng khắp vùng là những người văn võ song toàn nên được chọn ra làm người ứng tuyển. Lý Bí ngự thí, thấy ba ông trả lời trôi chảy, lại võ nghệ hơn người nên mới xuống chiếu phong cho ba ông giữ chức chỉ huy sứ, tả, hữu tướng quân, mang quân đi tuần hành trước để xem xét các đường tiến quân bằng thủy lục của giặc. Ngay khi được phong chức, ba ông làm lễ bái tạ, lĩnh quân thủy, bộ tiến hành tuần phòng. Quân đường bộ giương cờ bay phấp phới, uy danh chấn động vang xa vạn dặm, còn đạo quân đường thủy đầu thuyền thúc trống liên hồi, âm thanh như sấm vang đến muôn nơi. Khi đạo quân đường thủy của ba ông tiến đến bến sông thuộc địa đầu khu Hoa Phát trang Thụy Điền, huyện Lập Thạch, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây, thấy vùng này có núi sông quanh co, gấp khúc, đúng thế rồng chầu, hổ phục. Thế núi ở đây không cao mà đất cát lại mịn màng, còn sông thì không sâu mà bến bãi lại tiện nghi, thực là nơi thắng cảnh phong quang, là vùng địa lợi nên cho dừng quân tại đây rồi truyền cho binh sĩ và nhân dân trong vùng thiết lập đồn binh dùng làm nơi ứng chiến phía sau quân giặc. Phụ lão và Nhân dân trong vùng bèn làm lễ và xin làm thần tử, được các ông ưng thuận. Từ khi các ông lập đồn tại khu Hoa Phát, trang Thụy Điền, Nhân dân làm ăn được khấm khá, cuộc sống ấm no, các phụ lão mới tấu rằng: “Từ khi các ông lập đồn ở đây, Nhân dân đều yên vui nghề nghiệp, bãi bỏ hình phạt, lấy uy đức cảm hóa lòng người vì vậy nay xin là đồn, về sau lấy làm nơi thờ tự các ông”. Ba ông đồng ý, nói với phụ lão và Nhân dân rằng: “Anh em tôi sau khi trăm tuổi, phàm việc thờ cúng phải có hậu, lấy đó làm trọng. Anh em tôi di mệnh cho dân bản khu phụng thờ ba người cùng có duệ hiệu như nhau”. Ba ông lại trao cho phụ lão và Nhân dân các dòng họ trong khu ba mươi hốt vàng về sau mua ruộng, ao dùng làm nhu phí thờ tự. Sau đó các ông tuyển đinh tráng trong dân được 28 người sung làm gia thần.

Hôm sau, bỗng thấy quân Lương kéo đến ùn ùn, khắp bốn phía tiếng quân giặc vang động. Ba ông chỉ huy quân sĩ đánh một trận lớn, từ đó khí thế quân sĩ và Nhân dân nhờ thế mà càng được nâng cao. Năm 544, tháng Giêng, Lý Bí lên ngôi vua, xưng là Lý Nam Đế, lấy hiệu là Thiên Đức (đức trời), lập trăm quan, đặt tên nước là Vạn Xuân với mong muốn xã tắc truyền đến muôn đời. Lý Nam Đế đóng đô ở vùng cửa sông Tô Lịch (Hà Nội ngày nay), thành lập triều đình với hai ban văn, võ. Lấy Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều đứng đầu ban văn, Phạm Tu đứng đầu ban võ. Nhà vua khao thưởng quân sĩ và cho ba anh em ông Đông Hải được hưởng thực ấp ở Lập Thạch.Trên đường trở về, bỗng thấy một đám mây vàng, giống như dải lụa từ trên trời giáng xuống trước mặt. Ba ông cùng bay lên không trung rồi không thấy nữa (tức là cùng nhau hóa), hôm đấy nhằm ngày 13 tháng Mười. Nhân dân thấy thế sợ hãi liền làm biểu tâu về triều. Vua sai ban sắc và phong cho ba ông là thượng đẳng phúc thần, giữ làm lệ thượng, chuẩn cho khu Hoa Phát đón mỹ tự về trong dân lập miếu phụng thờ. Sắc phong cho ba ông là:

Đệ Nhất Đông Hải Dương uy Hộ quốc Đại vương

Đệ Nhị Đông Hải Dương uy Hộ quốc Đại vương

Đệ Tam Đông Hải Dương uy Hộ quốc Đại vương

Sắc phục khi làm lễ cấm dùng màu hồng và đỏ.

Trải đến thời Tiền Lê, đời vua Lê Đại Hành (941 - 1005), niên hiệu Thiên Phúc, triều đình khảo khóa bách thần, gia phong cho ba vị mỹ tự là Hiển ứng Linh thông Đại vương. Từ đó về sau khi cầu đều thấy linh ứng, các triều đại phong kiến đều gia phong mỹ tự cho ba vị.

Thời vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh, 1218 - 1277), quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta, kinh thành Thăng Long bị vây hãm, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn vâng mệnh vua cầm quân đánh giặc. Ông cho cầu đảo các khu đền miếu linh thiêng, khi đến đền thờ ba vị quả thấy linh ứng hiển hiện, được ba vị âm phù đánh giặc thành công, kháng chiến chống Nguyên Mông kết thúc thắng lợi, vua Trần gia phong mỹ tự cho ba ông là Anh triết Hiển hựu Trợ thuận.

Thời vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi, 1385 - 1433) lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống lại ách đô hộ của nhà Minh. Cuộc khởi nghĩa kết thúc thắng lợi, vua Lê bao phong mỹ tự cho ba vị là Phổ tế Cương nghị Anh linh, ban sắc cho khu Hoa Phát trang Thụy Điền tu sửa miếu thờ.

Từ đó đến nay Nhân dân các làng khu Hoa Phát, trong đó có Nhân dân thôn Thụy Điền đều phụng thờ ba vị, khi thành lập đình thì suy tôn các vị là thành hoàng làng, khói hương không dứt.

Quá trình xây dựng, tu bổ, tôn tạo đình

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, khoảng những năm 1967 - 1968 ngôi đình Thụy Điền cổ được tháo dỡ để phục vụ việc xây dựng các công trình phúc lợi của địa phương. Sau nền đất của ngôi đình cũ lại được dùng để xây dựng nhà kho của hợp tác xã. Từ khi đình bị tháo dỡ đến khoảng năm 1990, việc thờ tự thành hoàng làng Thụy Điền bị gián đoạn.

Năm 2013, nhân dân địa phương đã đóng góp tiền của, công sức để phục dựng ngôi đình Thụy Điền khang trang chắc khỏe và vẫn giữ được quy mô, kiểu dáng kiến trúc của ngôi đình truyền thống của làng Việt.

Các hiện vật trong đình Thụy Điền

Do ngôi đình Thụy Điền cổ đã bị phá dỡ, vì vậy, hiện vật trong ngôi đình mới phục dựng hầu hết là hiện vật mới. Số hiện vật cổ của di tích lưu giữ được đến ngày nay chỉ còn bao gồm:

- Một bản sao thần tích, thần sắc ba xã Như Sơn, Thụy Sơn, Thụy Điền kê khai năm Bảo Đại thứ 13 (1938). Bản chính hiện đang lưu giữ tại đình Thụy Điền.

- Năm đạo sắc phong: Từ năm Tự Đức thứ 6 (1853) đến năm Khải Định thứ 9 (1924) các đời vua triều Nguyễn đều ban sắc phong cho dân ba xã Như Sơn, Thụy Sơn, Thụy Điền được thờ phụng ba vị như theo lệ cũ. Các đạo sắc phong này gồm:

Đạo sắc phong thứ nhất

Phiên âm: 自德綠年正月十一日.

Tự Đức lục niên chính nguyệt thập nhất nhật.

Dịch nghĩa: Sắc Đông Hải Tôn thần, nguyên tặng mỹ tự Diên hy Bách trạch Hoằng hiệp chi thần: phù giúp nước, che chở dân, linh ứng tỏ rõ. Nay trẫm nối theo mệnh lớn, nghĩ đến công lao của thần, xứng đáng gia tặng là Diên hy Bát trạch Hoằng hiệp Trác vĩ Thượng đẳng thần. Chuẩn cho ba xã Như Sơn, Thụy Sơn, Thụy Điền huyện Lập Thạch phụng thờ như cũ. Thần hãy che chở cho dân của trẫm. Vậy nay ban sắc!

Ngày 11 tháng Giêng năm Tự Đức thứ 6 (1853).

Đạo sắc phong thứ 2

Phiên âm: 同慶二年七月初一日

Đồng Khánh nhị niên thất nguyệt sơ nhất nhật

Dịch nghĩa: Sắc Diên hy Bát trạch Hoằng hiệp Trác vĩ Đông Hải Thượng đẳng thần từ trước đến nay phù giúp nước, che chở dân, linh ứng tỏ rõ, trải các tiết được ban cấp sắc phong, lưu việc thờ cúng. Nay trẫm nối theo mệnh lớn, nghĩ đến công lao của các thần, xứng đáng gia tặng Dực bảo Trung hưng Thượng đẳng thần. Chuẩn cho ba xã Như Sơn, Thụy Sơn, Thụy Điền huyện Lập Thạch, tỉnh Sơn Tây phụng thờ như cũ. Thần hãy che chở cho dân của trẫm. Vậy nay ban sắc!

Ngày mồng Một tháng Bảy, niên hiệu Đồng Khánh năm thứ 2 (1887).

Đạo sắc phong thứ 3

Phiên âm: 惟新三年八月十一日

Duy Tân tam niên bát nguyệt thập nhất nhật.

Dịch nghĩa: Sắc ban cho ba xã Như Sơn, Thụy Sơn, Thụy Điền huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên trước đây phụng thờ các vị thần đã được ban mỹ hiệu Diên hy Bát trạch Hoằng hiệp Trác vĩ Dực bảo Trung hưng Đông Hải Thượng đẳng thần. Trải các tiết được ban cấp sắc phong chuẩn cho thờ cúng năm Duy Tân thứ nhất (1907), nhân đại lễ lên ngôi của trẫm, bèn ban chiếu báu, mở rộng ân huệ, làm lễ đăng trật, đặc chuẩn cho thờ cúng như cũ để ghi nhớ ngày quốc khánh mà kéo dài việc thờ thần. Vậy nay ban sắc!

Ngày 11 tháng 8 niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 (1909)

Đạo sắc phong thứ tư

Phiên âm: 凱定九年七月二十五日.

Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.

Dịch nghĩa: Sắc ban cho ba xã Như Sơn, Thụy Sơn, Thụy Điền, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên trước đây phụng thờ vị Diên hy Bát trạch Hoằng hiệp Trác vĩ Dực bảo Trung hưng Đệ nhất Đông Hải Hiển hựu Đại vương; Đệ nhị Đông Hải Hộ quốc Đại vương; Đệ tam Đông Hải Linh ứng Đại vương phù giúp nước, che chở dân, linh ứng tỏ rõ, trải các tiết được ban cấp sắc phong, chuẩn cho thờ cúng. Nay trẫm gặp lúc làm lễ mừng thọ tuổi tứ tuần, ban chiếu báu, mở rộng ân huệ, làm lễ đăng trật, đặc chuẩn cho phụng thờ như cũ để ghi nhớ ngày quốc khánh mà kéo dài việc thờ thần. Vậy nay ban sắc!

Ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải Định năm thứ 9 (1924)

Đạo sắc phong thứ năm

Phiên âm: 凱定九年七月二十五日.

Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.

Dịch nghĩa: Sắc ban cho thôn Ngọc Trĩ xã Như Sơn, thôn Uổng xã Thụy Sơn, thôn Ngoại xã Thụy Điền, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên trước đây phụng thờ các vị thần được tặng mỹ tự Diên hy Bát trạch Hoằng hiệp Trác vĩ Dực bảo Trung hưng Đệ Nhất Đông Hải Hiển hựu Đại vương Thượng đẳng thần; Đệ Nhị Đông Hải Hộ quốc Đại vương Thượng đẳng thần; Đệ Tam Đông Hải Linh ứng Đại vương Thượng đẳng thần: phù giúp nước, che chở dân, linh ứng tỏ rõ, trải các tiết được ban cấp sắc phong, chuẩn cho thờ cúng. Nay trẫm gặp lúc làm lễ mừng thọ tuổi tứ tuần, bèn ban chiếu báu, mở rộng ân huệ, làm lễ đăng trật, đặc chuẩn cho phụng thờ như cũ để ghi nhớ ngày quốc khánh mà kéo dài việc thờ thần. Vậy nay ban sắc!

Ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải Định năm thứ 9 (1924).

Sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của đình Thụy Điền

 Hàng năm đình Thụy Điền thường tổ chức các tiệc như:

- Ngày 12 tháng Giêng âm lịch: Tế lễ kỷ niệm ngày sinh thánh và “Khai xuân”;

- Ngày 13 tháng Mười âm lịch: Ngày thánh hóa;

- Ngày 14 tháng Một ta (tháng 11 âm lịch): Tế lễ kỷ niệm công tích các ngài dẹp giặc Lương thành công;

- Ngày 25 tháng Năm: Lễ Hạ điền. Dân làm lễ cúng tế các ngài, cầu được các ngài che chở, phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, Nhân dân bắt đầu vào vụ cấy mùa;

- Ngày 13 tháng Bảy: Cúng các ngài để biết là cấy đã xong (tức là lễ thượng điền);

Còn khi tế lễ để cầu phúc là tùy theo từng năm; có năm có, có năm không.

Giá trị lịch sử, văn hóa của di tích

Đình Thụy Điền là công trình tín ngưỡng, tâm linh của cộng đồng dân cư làng Thụy Điền khi xưa, nay là thôn Thụy Điền, xã Tân Lập, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Đình Thụy Điền thờ thành hoàng làng là ba vị đại vương hiệu là Đông Hải. Các ngài sống vào thời Tiền Lý (thế kỷ VI), tương truyền đã có công giúp vua Lý Nam Đế đánh đuổi giặc Lương xâm lược, được nhân dân lập miếu thờ, sau lập đình thì rước vào đình thờ và suy tôn là thành hoàng làng, là phúc thần bảo trợ cho dân làng.

Ngày nay, bên cạnh các chức năng thờ cúng thành hoàng làng thì đình Thụy Điền còn là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người dân địa phương,  nơi giáo dục truyền thống, đạo lý “Uống nước nhờ nguồn”, tôn vinh những đóng góp, công lao của lớp lớp người con đất Thụy Điền. Đây còn là nơi lưu giữ những giá trị về di sản văn hóa phi vật thể truyền thống của nhân dân địa phương.

Đình Thụy Điền đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa  cấp tỉnh theo quyết định số 319/QĐ-UBND, ngày 26 tháng 01 năm 2016.

BBT

 

Ngày đăng: 18/01/2021