Dành cho du khách

 
Dành cho du Khách

Chùa Hoa Long

Chùa Hoa Long (tên chữ là “Hoa Long tự”, còn gọi là chùa Phan Dư) tọa lạc tại thôn Phan Dư, xã Cao Phong, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, ở một vị trí đắc địa, cao ráo, thoáng mát, hướng Nam; là  chốn sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng lâu đời của nhân dân địa phương.

Theo tài liệu thống kê năm 2019, tổng diện tích của 10 thôn ở làng Phan Dư là 616,9 ha, dân số 7.089 người. Trong đó thôn Phan Dư có 1.100 người, sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, mây tre đan và dịch vụ.

Chùa Hoa Long có niên đại xây dựng từ lâu đời. Theo dữ liệu còn lưu trên cây hương đá tại chùa, thì Hoa Long tự có niên đại khởi dựng muộn nhất vào thời vua Lê Thuần Tông (1699 - 1735) - vị hoàng đế thứ 24 của nhà Hậu Lê.

Chùa Hoa Long hiện còn lưu giữ một số cổ vật quý, như cây hương đá, nồi hương đá, đỉnh đồng, mâm bồng, quả chuông... Trước cửa chùa có đường cái Tây, có cầu Mai bằng đá, có quán đá trên bến dưới thuyền, có hai đầm sen và cánh đồng lúa… Đây là nguồn tư liệu quý góp phần khẳng định lịch sử xây dựng, quá trình tu bồi, tôn tạo ngôi chùa. Chùa hiện nay được phục hồi trên nền móng cũ, quy mô kiến trúc cân đối, hài hòa, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tôn giáo tín ngưỡng của nhân dân địa phương trong vùng.

Nổi bật nhất của chùa Hoa Long là hệ thống tượng phật. Với bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, các pho tượng hiển hiện sinh động, được khắc tạc, tô điểm đúng kích thước khuôn mẫu. Cảnh chùa thanh tĩnh, gần gũi và quen thuộc đối với nhân dân và khách thập phương. Vào những ngày lễ trọng, chùa luôn có nhiều người đến chiêm bái, hành lễ.

1. Chùa Hoa Long hiện nay

Theo dòng lịch sử, thôn Phan Dư (thuộc làng Phan Dư cổ) từng thuộc những địa danh hành chính sau:

Thời Hùng Vương, Phan Dư thuộc thôn Vị Trù, xã Phù Lại, bộ Văn Lang.

Thời thuộc Hán, Vị Trù thuộc quận Giao Chỉ.

Từ thế kỷ III đến thế kỷ V: Vị Trù thuộc huyện Mê Linh, quận Tân Xương.

Từ  thế kỷ VI đến thế kỷ X: Vị Trù thuộc huyện Tân Xương, quận Phong Châu - Thừa Hóa, gọi tắt là Phong Châu.

Thời Trần: Thế kỷ XIII đến thế kỷ XIV: Vị Trù thuộc châu Tam Đái (Tam Đới), lộ Đông Đô.

Thời Hậu Lê: Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, Phan Dư thuộc huyện Lập Thạch, phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây.

Đến thời Nguyễn (thế kỷ XIX) trấn đổi thành tỉnh, Phan Dư thuộc huyện Lập Thạch, phủ Tam Đới, tỉnh Sơn Tây.

Năm 1890, thực dân Pháp thành lập đạo Vĩnh Yên, Phan Dư (kẻ Mai) thuộc huyện Lập Thạch, đạo Vĩnh Yên.

Tháng 4 năm 1891, đạo Vĩnh Yên giải thể, Phan Dư thuộc tỉnh Sơn Tây.

Năm 1899, lập lại tỉnh Vĩnh Yên, vùng đất này thuộc tỉnh Vĩnh Yên.

Đầu thế kỷ XX, Phan Dư thuộc tổng Sơn Bình, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên .

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xóa bỏ cấp tổng, thành lập hành chính cấp xã, Phan Dư thuộc xã Văn Quán, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

Năm 1950: Hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên sáp nhập thành tỉnh Vĩnh Phúc. Phan Dư thuộc xã Cao Phong, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tháng 3 năm 1968, hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Phú, Phan Dư thuộc xã Cao Phong, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú.

Tháng 1 năm 1997, tỉnh Vĩnh Phú chia tách thành hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ, Phan Dư thuộc xã Cao Phong, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tháng 4 năm 2002: Sáp nhập khu dân cư 12 và 13 thành mô hình thôn dân cư.

Tháng 4 năm 2009: Chia tách huyện Lập Thạch thành hai huyện Lập Thạch và Sông Lô; từ đó đến nay, thôn Phan Dư thuộc xã Cao Phong, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

2. Nhân vật thờ:

Chùa Hoa Long thờ Phật theo Phái Đại thừa. Đại thừa (Cỗ xe lớn), còn gọi là Đại thặng (Bánh xe lớn) là một trong hai trường phái lớn của đạo Phật. Tiểu thừa hay Tiểu thặng nghĩa là Cỗ xe nhỏ, Bánh xe nhỏ.

          Xuất hiện từ thế kỷ thứ Nhất trước Công nguyên, phái này tự nhận là cỗ xe lớn, nhờ dựa trên tính đa dạng của giáo phái, để mở đường cho số đông chúng sinh có thể giác ngộ, cả hai phái Tiểu thừa và Đại thừa, đều bắt nguồn từ vị Phật Thích ca Mâu ni* nhưng khác nhau nơi sự quan tâm thực hành giáo pháp và tư tưởng. Hình tượng tiêu biểu của Đại thừa là Bồ tát với đặc tính vượt trội là lòng bi, bộ kinh được xem là Kinh văn Đại thừa đầu tiên là Bát nhã - Bát thiên tụng.

3. Sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng.

Hằng năm, tại chùa Hoa Long thường tổ chức các lễ chính như sau:

*Ngày 15 tháng Giêng (âm lịch) là ngày tết Nguyên tiêu. Dù kinh điển nhà Phật không nói đến ngày rằm tháng Giêng, nhưng với người Việt, ngày này là dịp để các thiện nam tín nữ, phật tử lên chùa cúng sao - giải hạn, ước nguyện điềm lành. Dịp này, nhà chùa thường tụng kinh Dược sư, khuyên răn các phật tử cùng tụng niệm và hồi hướng công đức để thế giới được an lành.

*Ngày 15 tháng Tư (âm lịch): Lễ Phật đản (ngày sinh của đức Phật). Theo truyền thống Phật giáo Bắc Tông và ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, ngày này chỉ là kỉ niệm ngày sinh của Đức Phật Thích Ca. Tuy nhiên theo Phật giáo Nam truyền và tăng tạng thì ngày này là ngày Tam hiệp, gồm: kỷ niệm Phật đản, Phật thành Đạo và Phật nhập Niết bàn.

*Ngày rằm tháng Bảy (âm lịch): Lễ Vu lan hay còn được gọi là lễ Báo hiếu; là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo (Đại thừa Bắc tông); cũng là ngày xá tội vong nhân (vào ngày rằm tháng Bảy) theo phong tục Á Đông. Theo tín ngưỡng dân gian, ngày rằm tháng Bảy âm lịch hằng năm là ngày cõi âm phủ mở cửa ngục, ân xá cho vong nhân nên trên dương thế có lễ cúng cô hồn (vào buổi chiều) cho các vong linh không có nhà cửa, không nơi nương tựa, không có thân nhân trên dương thế thờ cúng; cũng là ngày mọi tù nhân ở địa ngục có cơ hội được xá tội, được thoát sinh về giới an lành.

Ngoài các ngày lễ chính như trên thì cứ vào mùng Một, ngày rằm hằng tháng âm lịch trong năm, các tăng, ni, phật tử và và Nhân dân đều đến chùa hành lễ, tụng kinh niệm Phật, cầu mong vạn sự an lành cho muôn nhà.

4. Di tích chùa Hoa Long hiện nay

Theo tài liệu cổ và các bậc cao niên trong làng kể lại thì chùa Hoa Long có niên đại khởi dựng từ lâu đời. Căn cứ vào bản Xã chí xã Phan Dư, tổng Sơn Bình, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên kê năm 1939 còn lưu giữ tại viện Hán Nôm, Hà Nội, có ghi: Chùa có một cây hương đá, tạo vào niên hiệu Long Đức (1732 -1735), một quả chuông đúc năm Kỷ Mùi, niên hiệu cảnh Thịnh thứ 7 (1799). Từ những căn cứ này, có thể khẳng định chùa Hoa Long có niên đại xây dựng muộn nhất là vào năm 1732.

Tuy nhiên, trải qua thời gian dài tồn tại, vì nhiều nguyên nhân: thiên tai, địch họa, mưa nắng bào xói… đến năm 1966 ngôi chùa cổ đã bị triệt giải hoàn toàn, chỉ còn lại một số cổ vật là đồ thờ tự, gồm: cây hương đá, giếng chùa và nồi hương bằng đá cùng đỉnh đồng, mâm bồng và chậu đồng.

Để phục hồi, bảo tồn di tích cổ, đáp ứng nhu cầu, nguyên vọng về đời sống tâm linh của người dân, năm 1995, địa phương đã hưng công dựng lại được ba gian thượng điện. Năm 2008, xây dựng mới năm gian tiền đường nối với thượng điện tạo thành một chính thể kiến trúc thống nhất hình chữ Đinh (….) theo lối tường hồi, bít đốc.

Di tích chùa Hoa Long hiện nay bao gồm:

+ Tòa tiền đường với 5 gian, rộng 5,2m, dài 15,36m, diện tích 80m2, hệ thống cột chịu lực bằng bê tông cốt thép, hệ mái bằng gỗ, các bộ vì được làm theo kiểu thức quá giang gối tường, gối cột vì kèo suốt; chi tiết kiến trúc gỗ được bào trơn, đóng bén, không đục chạm, trang trí hoa văn; mái lợp ngói Sông Cầu.

+ Tòa thượng điện gồm 3 gian, rộng 7,6m, sâu 5m, diện tích 38m2, các bộ vì theo kiến trúc quá giang, gối tường, gối cột; các cấu kiện, kiến trúc bằng gỗ đều bào trơn, đóng bén, không đục chạm trang trí; mái lợp ngói mũi cổ.

Năm 2010, Nhân dân xây dựng thêm 5 gian nhà khách phía trước tòa tiền đường.

Bên cạnh tam bảo chùa Hoa Long là đền Mẫu thờ Hòa Diệu, Đoan Trang Hoàng Thái hậu. Đền có kiến trúc kiểu chữ Đinh (………) gồm ba gian tiền tế, một gian hậu cung.

Cách chùa Hoa Long khoảng 50m là giếng chùa. Theo dân gian thì giếng này có từ khi khởi dựng chùa. Tang giếng hình vuông tạo bằng 8 phiến đá xanh được chế tác gia công cẩn thận. Mỗi phiến đá có kích thước dài 1,76m, dày 1,42m, rộng 38cm, ghép lại với nhau theo chiều sâu của giếng tạo nên tang giếng. Các phiến đá tang giếng được liên kết với nhau bằng tông cốt, lỗ then cài. Lòng giếng rộng 1,2m. Tuy trên tang giếng không ghi niên hiệu khởi dựng nhưng quan sát hình thức, kiểu dáng, có thể đưa ra nhận định: giếng có niên đại khởi dựng vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX).

Trong cùng không gian văn hóa của làng Phan Dư chúng ta không thể, không kể đến hai cây gạo Thần Nông được tôn vinh và được Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam cấp bằng công nhận “Cây di sản Việt Nam” ngày 29/6/2016. Theo tiền nhân truyền lại, thì hai cây gạo này có từ lâu đời, tới nay khoảng trên 300 năm tuổi; là biểu tượng cho sự trường tồn, là niềm tự hào của đất và người Phan Dư.

Chùa Hoa Long đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xếp hạng di tích lịch sử văn hóa  cấp tỉnh theo quyết định số 548/QĐ-UBND ngày 15 tháng 2 năm 2019.

BBT

Ngày đăng: 18/01/2021