Dành cho du khách

 
Dành cho du Khách

Chùa Trầm Long

Chùa Trầm Long tọa lạc tại thôn Đồng Tâm, xã Nhân Đạo, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; cách thành phố Vĩnh Yên - tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Phúc - khoảng 45km về phía Tây Bắc; cách thị trấn Tam Sơn - huyện lỵ huyện Sông Lô - 8 km về phía Bắc.

Chùa Trầm Long thuộc loại di tích kiến trúc nghệ thuật, có lịch sử xây dựng khá lâu đời (khoảng giữa thế XIX). Trong kháng chiến chống Pháp, ngôi chùa cổ đã bị phá hủy. Năm 1989, Nhân dân địa phương đã phục dựng chùa với quy mô nhỏ, kiến trúc đơn giản. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng xã hội ngày càng cao. Nhằm đáp ứng nguyện vọng chính đáng của Nhân dân và phật tử xa gần, năm 2003, chính quyền địa phương cùng các Phật tử, những nhà hảo tâm và người dân đã đóng góp tiền của, công sức tổ chức xây dựng lại ngôi chùa Trầm Long theo kiểu thức truyền thống của chùa làng miền Bắc khang trang, sạch đẹp.

Nhân vật thờ và hiện vật chùa Trầm Long.

Chùa Trầm Long là nơi thờ Phật theo giáo lý dòng Đại thừa - nét đặc trưng của chùa phật miền Bắc. Bài trí thờ tự trong chùa, theo đó, gồm nhiều bệ thờ đại diện cho ba thế giới (tam giới - tức ba cõi: dục giới, sắc giới, vô sắc giới), các cấp bậc tiêu biểu cho thập địa của Bồ tát. Chùa có mặt bằng kiến trúc kiểu chữ Đinh (), quy mô gồm hai tòa: tiền đường có 3 gian 2 dĩ; thượng điện có 3 gian. Tòa tiền đường có chiều dài 12,6m, rộng 5,1, diện tích 64m2; thượng điện 3 gian với chiều dài 7,2m, rộng 7m, diện tích sử dụng 50m2, đây là nơi bài trí hệ thống tượng Phật chủ yếu của chùa.

Ngôi chùa Trầm Long được xây dựng với kết cấu gồm các cột chịu lực, xà, kẻ, các bộ vì nóc, hoành, rui được làm bằng gỗ, mái lợp ngói mũi truyền thống, các cửa ra vào được làm bằng gỗ theo kiểu bức bàn. Mặc dù kiến trúc đơn giản, quy mô không lớn nhưng chùa Trầm Long vẫn mang dáng dấp của một ngôi chùa làng truyền thống vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ; đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo, tâm linh cho cộng đồng dân cư làng Nhân Lạc, xã Nhân Đạo nói riêng, du khách thập phương nói chung.

Do ngôi chùa Trầm Long cổ đã bị phá hủy trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, vì vậy, các di vật, cổ vật của chùa còn được lưu giữ lại không nhiều. Hiện tại,  chùa còn bảo tồn được 4 pho tượng cổ và một số đồ thờ tự. Cụ thể như sau:

- Ba pho tượng Tam thế Phật (tượng được tạo tạc bằng đất), kích thước: 01 tượng cao 125cm (cả bệ), rộng vai 40cm; 02 tượng cao 110cm (cả bệ), rộng vai 30cm.

- Một tượng Đức Ông bằng chất liệu gỗ mít, kích thước tượng cao 130cm (cả bệ), rộng vai 48cm;

- Một lư hương bằng đất nung, cao 36cm, rộng 40cm;

- Một lư hương bằng đất nung, cao 36cm, rộng 36cm;

- Hai cây đèn đồng, cao 10cm.

- 22 pho tượng mới được tạc bằng chất liệu tổng hợp;

- 12 pho tượng được đặt trong nhà thờ Mẫu (tượng nhỏ);

- Một chuông đồng, cao 90cm, đường kính miệng 40cm;

- Hai cây nến đồng, cao 50cm;

- Hai hạc đồng, mỏ ngậm cành hoa sen, đứng trên lưng rùa;

- Hai bát hương bằng gốm sứ, cao 10cm, đường kính 16cm;

- Hai cây nến gỗ, cao 12cm, đường kính 25cm;

- Bốn đài nước, cao 12cm.

- 26 pho tượng được bài trí thờ tự tại tiền đường và thượng điện.

Các pho tượng tại thượng điện được bài trí thành các lớp, đặt trên chính điện và hai bên hành lang. Tuy nhiên, do cách sắp xếp chưa thật chuẩn nên một số tượng trong chùa chưa được đặt đúng quy định theo phong cách thờ tự truyền thống của những ngôi chùa miền Bắc nước ta.

Tại chính điện, tính từ trên xuống dưới, gồm các lớp tượng:

- Lớp tượng thứ nhất gồm ba tượng Tam thế Phật;

- Lớp tượng thứ hai gồm ba tượng A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Trí Bồ Tát;

- Lớp tượng thứ ba gồm ba tượng: Thích Ca Niên Hoa, An Nan Đà và Ca Diếp;

- Lớp tượng thứ tư gồm ba tượng: Quan Âm Thiên Thủ, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát;

- Lớp tượng thứ năm gồm ba tượng: Ngọc Hoàng và Kim Đồng, Ngọc Nữ;

- Lớp tượng thứ sáu gồm tượng Thích Ca sơ sinh đứng trong tòa Cửu long và tượng Nam Tào - Bắc Đẩu.

Cụ thể như sau:

Lớp tượng thứ nhất: Bộ tượng Tam thế Phật, đây là ba trong bốn pho tượng cổ còn được lưu giữ tại chùa. Bộ tượng Tam Thế Phật được bài trí ở lớp trên cùng của tòa tam bảo, tượng trưng cho đức Phật ở ba thời: quá khứ, hiện tại và tương lai, thể hiện giáo lý luân hồi của nhà Phật. Các pho tượng được tạc với tạo hình tóc xoắn, cổ cao, tai chảy dài, khuôn mặt hiền từ, phúc hậu, áo rủ nhiều nếp mềm mại. Pho tượng ở giữa ngồi trong tư thế thiền bán kiết, hai bàn tay kết ấn để ngửa trong lòng đùi. Hai pho tượng hai bên ngồi trong tư thế thiền, một tay chắp ấn để ngang ngực, một tay để trên đùi. Cả ba pho tượng đều tọa trên đài sen với những cánh hoa sen to được tạc khá tinh xảo, bố cục và sự kết nối với nhau rất hợp lý, hài hòa.

Lớp tượng thứ hai: Bộ tượng Di Đà tam tôn. Bộ tượng này gồm ba pho: A Di Đà, Bồ Tát Quan Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Trí.

Tượng A Di Đà cao 124cm, tọa trên đài sen, khuôn mặt tròn, phúc hậu, tai chảy dài, vầng trán rộng thể hiện sự tinh thông và trí tuệ. Tượng ngồi trong tư thế kiết già, hai bàn tay kết ấn để ngửa trong lòng đùi.

Hộ pháp cho A Di Đà là Quan Thế Âm Bồ Tát tọa bên trái và Đại Thế Trí Bồ Tát tọa bên phải. Đây là hai đệ tử của A Di Đà, hai ngài đều có pháp lực tinh thông. Quan Thế Âm Bồ Tát tượng trưng cho đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả; Đại Thế Trí Bồ Tát đại diện cho đại hùng, đại lực, đại trí, đại tuệ. Cả hai pho tượng có kích thước cao 90cm, mình tượng mặc áo choàng nhiều lớp, đầu đội mũ thất phật, tư thế ngồi kiết già với lòng bàn chân ngửa lên, hai tay để ngửa trong lòng đùi.

Lớp tượng thứ ba: Gồm ba pho tượng: Một pho tượng Thích Ca Hoa Nghiêm; một pho tượng Ca Diếp và một pho tượng A Nan Đà.

Tượng Thích Ca Hoa Nghiêm có kích thước cao 100cm, được tạc trong tư thế ngồi bán kiết trên đài sen, một tay đưa lên ngang ngực, một tay để ngửa trong lòng đùi. Khuôn mặt tượng tròn trịa, miệng hơi mỉm cười. Đây là pho tượng được tạo tác khá đẹp của chùa Trầm Long.

Hai tượng Ca Diếp và A-nan-đà đứng hai bên, có cùng kích thước cao 80cm, hai tay bắt ấn để trước ngực, chân để trần, áo choàng rủ nhiều lớp. Theo sự tích nhà Phật, Ca Diếp là người đứng đầu trong các đệ tử của Phật Thích Ca, tu theo phép tu khổ hạnh. Ngài thông tuệ giáo lý của Phật. Theo kinh sách, ngài là người rất nhẫn nhục, hết lòng phụng sự đức Phật, là tôn giả nổi tiếng với trí nhớ phi thường về những lời Phật dạy.

Lớp tượng thứ tư: Gồm các tượng Quan Âm Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát và Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.

Vị Quan Âm Bồ Tát là hình ảnh tượng trưng cho sự tinh anh có thể nhìn thấu suốt mọi việc trên thế gian, hiển thị công đức vô lượng, diệt trừ tất cả khổ ách, tai ương, làm tăng tiến trí tuệ, phúc đức, cứu giúp cho chúng sinh được sống lâu khỏe mạnh. Vị bồ tát này thường được dân gian gọi là Quan Âm thiên thủ thiên nhãn với ý nghĩa là có nghìn tay nghìn mắt. Tuy nhiên pho tượng quan âm tại chùa Trầm Long được tạc trong tư thế ngồi bán kiết rất đơn giản nên chữ “thiên” trong “thiên thủ thiên nhãn” ở đây cũng có thể được hiểu là trời, nghĩa là tay trời, mắt trời, thể hiện pháp lực vô biên của đức quan âm có thể nhìn thấu vạn vật ở mọi lúc mọi nơi và giang tay cứu vớt những mảnh đời đau khổ trên toàn cõi thế gian. Tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn được tạc trong tư thế tọa trên đài sen, ngài có khuôn mặt bầu, hiền từ, tóc búi cao, đầu đội mũ tỳ lư thất phật. Tượng có tất cả 12 cánh tay, các cánh tay đều thon nhỏ, bàn tay với những ngón búp măng được tạo tạc tỷ mỉ, tinh tế. Trong đó hai tay chắp lại chấp ấn phía trước ngực, hai đan vào nhau kết ấn thiền để trong lòng đùi, 8 cánh tay còn lại để trần vươn ra ở hai bên sườn để bảo bọc, che chở cho những kiếp người khổ đau.

Hai bên tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn là tượng Phổ Hiền Bồ tát cưỡi voi trắng ngồi phía bên trái và tượng Văn Thù Bồ tát cưỡi sư tử xanh ngồi phía bên phải. Hai tượng đều có chiều cao 80cm, hai tay tượng chắp ấn ngang ngực, hai bàn chân để trần, đầu đội mũ thất phật, mình mặc áo choàng nhiều lớp rủ kín tới chân. Văn Thù Bồ tát là tượng trưng cho trí tuệ, kinh nghiệm giác ngộ đạt được bằng phương tiện tri thức, Phổ Hiền là vị bồ tát có năng lực hiện thân khắp mười phương pháp giới, tùy cầu mong của chúng sinh mà hiện thân hóa độ. Đây là hai vị bồ tát quan trọng của Phật giáo.

Lớp tượng thứ năm: Gồm ba tượng: Ngọc Hoàng, Kim Đồng, Ngọc Nữ.

Tượng Ngọc Hoàng ngồi giữa, cao 105cm, rộng vai 35cm, đầu đội mũ bình thiên, trên thân mũ có chạm nổi hình rồng chầu. Ngài có bộ râu đen dài, áo long cổn dài tới chân, hai bên vai và phía trước áo có chạm nổi các hình rồng. Tượng được tạc trong tư thế ngồi, chân vuông gối, hai tay cầm thẻ bài, chắp lại phía trước ngực.

Hai bên tượng Ngọc Hoàng là tượng Kim Đồng - Ngọc Nữ được tạc giống nhau, có kích thước cao 100cm, rộng vai 30cm. Tượng được tạc trong tư thế đứng, hai tay chắp lại để ngang ngực, áo choàng rủ, gương mặt sáng, tóc búi cao.

Lớp tượng thứ sáu: Tượng Thích Ca sơ sinh đứng trong tòa Cửu long và hai tượng Nam Tào, Bắc Đẩu.

Tượng Thích Ca sơ sinh cao 30cm được tạc dưới hình dáng một chú bé có dáng vẻ ngây thơ, mình để trần, tay trái chỉ lên trời, tay phải chỉ xuống đất. Theo sự tích nhà Phật, Khi mới sinh ra, ngài Thích Ca bước đi bảy bước theo bốn hướng, dưới mỗi bước chân ngài đi nở ra một đóa sen, tay trái chỉ lên trời, tay phải chỉ xuống đất, nói rằng “Thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn” (Trên trời dưới đất chỉ có ta là tôn quý hơn cả). Hành động một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất và chữ “ngã” ở đây như là một sự xác lập uy quyền của đức Phật trong khắp cõi trời đất, đó dường như cũng là điềm báo cho sự xuất hiện của một bậc thánh nhân có thể cứu rỗi, mang lại hạnh phúc cho tất thảy chúng sinh.

Tiếp đến là hai tượng Nam Tào, Bắc Đẩu được tạc với kích thước giống nhau: cao 90cm, rộng vai 30cm. Tượng được tạc trong tư thế ngồi chân vuông gối, hai bàn tay để ngửa trên gối, một tay cầm thẻ bài. Đầu tượng đội mũ quan, áo choàng rủ toàn thân.

Góc trong cùng phía bên trái của thượng điện là tượng Tuyết Sơn. Tượng cao 90cm, rộng vai 30cm, được tạc trong tư thế ngồi trên đài sen, một chân để vuông gối, một chân bắt chéo, khuôn mặt và vầng trán có nhiều nếp nhăn. Tượng có thân hình gầy gò, chỉ có da bọc xương, mình để trần để diễn tả lại hình ảnh của Phật Thích Ca trong thời kỳ tu khổ hạnh.

Đối diện với tượng Tuyết Sơn, ở góc trong cùng phía bên phải của thượng điện là tượng Quan Âm Tạo Sơn hay còn gọi là Quan Âm Tống Tử, Quan Âm Thị Kính. Tượng được tạc với hình tượng một bà mẹ đang ngồi trong tư thế chân vuông gối, tay phải bồng một đứa trẻ, tay trái đặt lên gối, phía cánh tay trái có con vẹt. Tượng có kích thước cao 102cm, rộng vai 40cm, khuôn mặt bầu, da trắng, ngón tay thon, tai chảy dài, cổ cao ba ngấn, tóc búi cao, mặc áo rủ nhiều nếp, bàn chân để trần.

Tượng Quan Âm Tống Tử nói lên đức từ bi của nhà Phật đối với chúng sinh. Đứa trẻ trên tay ngài là hiện thân cho chúng sinh đau khổ được Quam Âm cứu vớt. Trong truyền thuyết dân gian Việt Nam, hình tượng Quan Âm Tống Tử còn gọi là Quan Âm Thị Kính, gắn liền với câu chuyện dân gian kể về nàng Thị Kính vì bị chồng là Thiện Sỹ nghi oan mà giả trai lên chùa đi tu. Trong làng có cô gái tên là Thị Mầu vì cảm mến Thị Kính nhưng không được đáp lại nên đã dan díu với người làm rồi sinh con sau đó đem đứa trẻ lên chùa rồi vu cho Thị Kính là cha của đứa trẻ. Thị Kính đã nhẫn nhục mà nuôi đứa bé. Khi ngài thành Phật, đứa trẻ trên tay ngài (con của Thị Mầu) cũng đồng thời là tượng trưng cho những sinh linh bé bỏng được ngài cứu giúp... Với người Việt, hình tượng Quan Âm Thị Kính được cho là vị Quan Âm luôn bảo hộ, chăm sóc, cứu giúp phụ nữ và trẻ em.

Tiếp đến là hệ thống tượng thờ tại tiền đường.

Tượng thờ tại tiền đường chùa Trầm Long gồm tượng Địa Tạng; tượng Đức Ông; tượng Thánh Tăng; và hai tượng Hộ Pháp (Khuyến Thiện, Trừng Ác). Cụ thể như sau:

Tượng Đức Ông, được thờ ở bên trái của tiền đường, cao 130cm, rộng vai 48cm. Tượng được tạc với dáng vẻ dữ tợn, mặt đỏ, mặt đỏ, râu đen, rậm, ngồi trong tư thế chân vuông gối, hai tay lồng vào nhau để trong lòng đùi. Đầu tượng đội mũ cánh chuồn, mình mặc áo quan có trang trí các hình rồng, mặt hổ phù. Theo sự tích nhà Phật, Đức Ông vốn là một vị trưởng giả nhưng giàu lòng nhân ái, thường mang của cải cứu giúp những người khó khăn. Khi nghe Phật giảng đạo ngài đã giác ngộ mà được đức Phật cho cai quản mọi cảnh chùa trên thế gian. Vì vậy theo giáo lý nhà Phật các phật tử khi làm lễ tại chùa thì phải làm lễ xin phép tại ban Đức Ông trước rồi mới đến các ban thờ khác trong chùa.

Tượng Thánh Tăng (hay còn gọi là Thánh Hiền) cao 120cm, rộng vai 34cm, tọa bên phải tòa tiền đường. Tượng ngồi buông chân, đầu đội mũ tỳ lư thất phật, tay phải để ngang trước ngực ở tư thế thuyết pháp. Thánh Tăng được coi là An Nan Đà có chức trách đại diện, cai quản tất cả các tăng, ni.

Hai tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện và Hộ Pháp Trừng Ác được đắp nổi trên tường, đầu đội mũ, mình mặc áo võ tướng, tay cầm binh khí, chân đi hài. Tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện được đặt phía bên trái tiền đường, có khuôn mặt trắng vẻ hiền từ. Tượng Hộ Pháp Trừng Ác, gương mặt đỏ, tay cầm đao, dung mạo dữ tợn, được đặt phía bên phải tòa tiền đường.

Tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát ở phía tường đốc bên phải tòa tiền đường, đầu đội mũ tỳ lư, mình mặc áo cà sa, chân để trần, hai bàn tay giơ ngang ngực, đứng bên đài sen. Ngài có chức trách cứu độ tất thảy chúng sinh miền âm phủ.

Có thể thấy rằng hệ thống tượng Phật chùa Trầm Long chủ yếu là tượng mới, các tượng có kích thước không lớn nhưng được tạo tạc khá chau chuốt, tỉ mỉ, thể hiện được thần thái bi, trí, dũng… đẹp đẽ, uy nghiêm.

Thực trạng bảo vệ và phát huy giá trị di tích

Chùa Trầm Long mới được phục dựng nên có hiện trạng khang trang, chắc khỏe. Việc quản lý di tích hiện được giao cho chi hội người cao tuổi trong thôn chịu trách nhiệm trông coi, bảo vệ. Đồng thời tại di tích còn có các bà vãi thường xuyên thay nhau lo việc đèn hương những ngày tuần tiết, và mỗi khi các gia đình trong làng có việc cần mang lễ ra chùa dâng Phật, qua đó đã đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của nhân dân địa phương.

Chùa Trầm Long đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh theo quyết định số 218/QĐ-UBND ngày 25 tháng 01 năm 2014.

BBT

Ngày đăng: 18/01/2021