Dành cho du khách

 
Dành cho du Khách

Hồ Điển Triệt

Trong bài thơ “Đất nước”, Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã viết:

… Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…

Đúng vậy! Trên dải đất hình chữ S, mỗi địa danh đều gắn với những số phận, sự kiện lịch sử và in dấu tích cha ông. Đi dọc triền Lô giang thơ mộng, trữ tình đến địa phận của huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc, sẽ gặp 4 thôn, làng yên bình, trù phú, tươi đẹp đúng như tên gọi: Yên Phú, Yên Lương, Yên Kiều, Yên Mỹ. Cả bốn làng đều thuộc xã Tứ Yên - nơi có hồ Điển Triệt - một di tích lịch sử quan trọng gắn liền với Lý Bí - người anh hùng dân tộc có công đầu đánh đuổi giặc Lương xâm lược, lập nhà nước Vạn Xuân đầu thế kỷ  VI.

Hồ Điển Triệt thuộc xã Tứ Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo các cụ giải thích, "Điển Triệt" có nghĩa là: đầm nước trong suốt mà không bao giờ cạn hết nước được. Hồ Điển Triệt có tên gọi khác là đầm Miêng (“Miêng” được hiểu là đọc chệch, nói trại chữ “Minh”, hàm ý chỉ sự trong sáng mà thành. Theo cách giải thích của người cao tuổi ở đây thì do đầm nước luôn sâu thẳm, trong vắt; ánh nắng mặt trời chiếu rọi xuống mặt đầm tỏa hào quang rực rỡ, nên dân làng lấy đặc điểm đó mà đặt tên cho đầm nước của quê hương với lòng tự hào sâu nặng). Điển Triệt là một hồ nước rộng, với mực nước sâu. Hồ Điển Triệt dài khoảng 1km, chỗ rộng nhất hơn 200m, chỗ hẹp nhất 50m, sâu 5 đến 6m, không bao giờ cạn…

Hồ có nhiều “hóc” ăn sâu vào các dải khe hẹp - là thung lũng - điểm tiếp giáp giữa những ngọn đồi, quả gò quần tụ xung quanh hồ. (Dải đầm phía bên kia là liên tiếp các quả đồi, gò có độ cao khoảng từ 30m - 180m so với mực nước biển, và cao hơn mực nước mặt đầm từ 5m đến 40m). Hiện nay, diện tích hồ Điển Triệt còn khoảng 50 mẫu, chiều dài hồ khoảng hơn một km. Theo người làng, chưa bao giờ hồ Điển Triệt vơi cạn nước. Có những năm, hạn hán khắc nghiệt, nhưng hồ vẫn giữ được mực nước sâu từ 3m đến 4 mét. Hồ cách sông Lô khoảng 300m (qua một cánh ruộng, con đê, và bãi bồi). Ngày trước, hồ “ăn thông” với dòng sông Lô bằng một con ngòi. Ba phía: Đông, Nam, Bắc quanh hồ là một dải đất cao gồm mấy chục quả gò, rộng hơn 300 mẫu; phía Tây của hồ lại có một gân đồi thấp, chỉ cao hơn mặt nước chừng 2 - 3 m, bị đứt đoạn một khoảng rộng 180 m, làm thành cửa hồ, thông với vùng đồng chiêm trũng, ao, chằm lầy rộng đến hàng nghìn mẫu xung quanh. Hiện nay, dân cả bốn thôn, làng thuộc xã Tứ Yên đều cư ngụ ở trên dải đồi trên. Nơi đây từng diễn ra trận đánh lớn cuối cùng của đức vua Lý Nam Đế chống giặc Lương xâm lược vào thế kỷ VI.

Hồ Điển Triệt không chỉ là một tuyệt tác của tạo hóa ban cho con người mà còn là dấu tích gắn với trang lịch sử bi hùng của dân tộc. Sử sách ghi lại rằng: Lý Bí (hoặc Lý Bôn (李賁), 503 - 548, quê ở thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ngày nay, là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lý và nước Vạn Xuân). Sau khi dẹp giặc Tiêu Tư, ông lên ngôi hoàng đế, lập nước Vạn Xuân. Tháng 2 năm 544, lợi dụng tình hình đất nước ta chưa được ổn định, quân Lương do Trần Bá Tiên thống lĩnh ồ ạt kéo sang, tiến hành cuộc phản công, đàn áp. Quân ta dưới sự lãnh đạo của Lý Bí đã chống trả quyết liệt nhưng bị núng thế phải rời thành Tô Lịch (Hà Nội), rồi thành Gia Ninh (Bạch Hạc) lui về Động Lão (miền đồi núi Vĩnh Phúc trên lưu vực sông Lô). Sau một thời gian củng cố lực lượng, tháng 10 năm 546, Lý Nam Đế kéo quân từ miền rừng núi Di Lão ra hạ thủy trại trên hồ Điển Triệt (đây là nơi có những quả đồi dùng làm căn cứ thủ hiểm rất đắc địa. Việc liên hệ với xung quanh là những con đường bí mật trên mặt hồ, ra vào chỉ có thể bằng thuyền độc mộc). Nhận thấy Điển Triệt có thế đắc địa, nhà vua quyết định đóng đô lâu dài ở đây. Ông cho đóng rất nhiều thuyền chiến, mộ thêm quân sĩ, luyện tập suốt ngày đêm. Người dân nơi đây hàng ngày theo lệnh vua, tiếp tế lương thảo cho quan quân, góp sức chống ngoại xâm. Quả đồi nơi đức vua ngự, Nhân dân kính cẩn gọi là “Thành Ông Lĩnh”.

Lúc này, quân Lương, từ Gia Ninh (Bạch Hạc), ngược dòng sông Lô tiến lên hồ Điển Triệt, định phá doanh trại của Lý Nam Đế. Thế nhưng, căn cứ Điển Triệt rất hiểm yếu, khó đánh; trong khi đó khí thế quân ta ngày càng dâng cao. Nghĩa quân dũng cảm chặn đánh quân địch cả dưới nước lẫn trên bộ. Quân Lương đành co cụm lại ở vòng ngoài của hồ, không dám tiến vào sâu nữa. Trước tình hình đó, Bá Tiên lo sợ nói với tướng sĩ dưới trướng rằng: “Quân ta đi đánh đã lâu, quân sĩ mệt mỏi, nay cứ đánh giằng dai, sợ đó không phải là kế hay. Vả lại  quân ta là cô quân, không có tiếp viện, đã vào sâu trong tim bụng người ta, nếu đánh một trận mà không thắng thì mong gì toàn vẹn?. Nay chủ trương cùng xuất quân liều chết đánh một trận, chứ vô cớ dừng lại thì cơ hội sẽ qua đi mất...”(Theo Trần Thư, sách Tư trị thống giám). Nghe vậy, các tướng của Bá Tiên đều nín lặng nhìn nhau, không ai dám lên tiếng. Nhưng đêm ấy, nước sông Lô bỗng đột ngột lên to, chảy rót vào hồ khiến cho căn cứ địa của Lý Bí trở thành một vùng cô đảo. Bá Tiên liền cho chiến thuyền theo dòng nước tiến vào. Lý Bí bị đánh bất ngờ, không kịp phòng bị nên thua to, nghĩa quân tan vỡ, nhà vua phải chạy vào động Khuất Lão (Tam Nông, Phú Thọ) rồi trao binh quyền lại cho Triệu Quang Phục và mất ở đó vào tháng 4 năm 548.

Hồ Điển Triệt là nơi người anh hùng Lí Bí lập thành chống quân lương. Mặc dù cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng đã  để lại những dấu tích hào hùng trên mảnh đất Tứ Yên với những trận thủy chiến vang dội khiến người dân nơi đây luôn tự hào về mảnh đất quê hương. Vì vậy người dân Tứ Yên cách đây 4 - 500 năm đã dựng đình lập miếu để thờ cúng, tưởng nhớ và tôn vinh người anh hùng có công đánh giặc cứu dân, nước và thờ vọng Thánh Tản Viên, người có công dựng nước thời đại Hùng Vương. Hiện nay, ở đây có một ngôi miếu cổ thờ Tam vị nhân thần là Lý Bí, hai bên tả, hữu là Lý Phật Tử và Lý Thiên Bảo.

Ngôi miếu tọa lạc bên bờ sông Lô, gần đoạn ngòi nước thông với hồ Điển Triệt, dân làng quen gọi là “miếu Nghè”. Quanh miếu, um tùm những cây gạo, cây vải cổ thụ không biết có từ bao giờ. Trải qua bao thăng trầm, nơi đây vẫn giữ được vẻ tôn nghiêm, huyền bí.

Với diện tích khoảng trên 20 ha mặt nước, bị chia cắt bởi các mũi đất nhô ra nên hồ Điển Triệt trông giống như một bàn tay khổng lồ xòe rộng, mà cổ tay chính là nơi thông ra sông - là con đường duy nhất nối sông Lô với hồ Điển Triệt. Hồ có một hệ thống đồi gò bao bọc xung quanh. Nhân dân đắp một con đập ngăn để giữ nước và làm đường giao thông, gọi là đập Đề/Đè Quan. Trên một mũi đất nhô ra hồ ở phía Bắc mà các thầy địa lý xưa gọi là mũi Rồng, thấp thoáng một ngôi chùa cổ với gần 100 pho tượng. Đó là chùa Sơn Long (Sơn Long tự) được xây dựng từ thời nhà Lý (thế kỷ thứ X). Quả đồi nơi ngôi chùa cổ tọa lạc, Nhân dân quen gọi là đồi Chùa. Tam quan chùa còn lưu câu đối, ngoài ý nghĩa “tức cảnh sinh tình” còn mô tả, gợi liên tưởng đến tên gọi của hồ.

Phiên âm:

Bạch nhật hiến hoa thành Lĩnh điểu

Thanh tiêu thính kệ Triệt hồ ngư.

Tạm dịch là:

Sáng ngày chim dâng hoa ở thành Lĩnh

Đêm thanh vắng cá Triệt hồ nghe kinh.

Tiếp nối rừng Chùa là lô xô những quả đồi cao, thấp như sóng lượn, tựa thân rồng đang uốn khúc, trong đó nổi lên một quả đồi mà đứng ở đó có thể bao quát được cả một vùng rộng lớn xung quanh. Quả đồi đó, năm xưa được vua Lý Nam Đế chọn làm nơi dựng thành hạ trại tiếp tục cuộc kháng chiến chống giặc Lương xâm lược. Từ khi nhà vua đến đây, thì đồi được Nhân dân cung kính gọi là Rừng Cấm, đồi Ông Ngự hay Thành Lĩnh. Thành ấy được đắp theo lối tường trình, nay vẫn còn dấu vết, rõ nhất là hình ảnh kho đụn, nơi chứa đựng binh lương của quan quân ở khu Đồng Bịch. Khu gò đồi nguyên sinh với những cây cối rậm rạp, dây leo chằng chịt, chỉ có con đường độc đạo đi vào bằng thuyền độc mộc, lại được canh phòng hết sức cẩn mật. Tương truyền vị trí ấy là nơi vua Lý hàng ngày quan sát địch tình và đôn đốc quân sĩ đục thuyền độc mộc. Cũng tại đây, đức vua đã cùng tướng giỏi tôi hiền: Triệu Túc, Phạm Tu, Tinh Thiều… bàn việc quân, việc nước. Từ quả đồi có vị trí hiểm yếu này, vị hoàng đế nước Vạn Xuân hẳn từng nhiều lần phóng tầm mắt ra bốn bề; nhìn về phía mặt trời lặn, thấp thoáng thấy mộ vua Hùng trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, lướt xuống phía Nam là Bạch Hạc và vùng châu thổ mênh mông, quay lại sau lưng là dãy Tam Đảo sừng sững như bức trường thành xanh biếc. Đồi ấy nay còn những tảng đá lớn, nhẵn thín, xếp cạnh nhau như những chiếc ghế ngồi.

Cùng chầu về thành Lĩnh còn có bảy quả gò nổi lên giữa một vùng chiêm trũng theo thế voi phục. Vua đặt tên cho các “chú voi” đó là: Phù Giai, Phù Én, Phù Trưng, Phù Lánh, Phù Gầm, Phù Chè. Tiếc thay, chưa đủ “thất phù”, bởi một chú voi phản phúc đã quay ngang ra phía bờ sông. Tương truyền, vua Lý tức giận đã rút gươm chém đứt đầu voi và từ đó, Ngài không có ý định dựng kinh đô ở nơi này nữa. Đầu voi đem bêu, trơ khấc nơi đầu làng Yên Phú bây giờ, “máu” chảy ra đỏ một vùng nước, trên mặt nước ấy phủ một lớp váng màu gỉ sắt, làm chết cả lúa màu, tôm cá cũng không sống được. Chỗ ấy, cho đến bây giờ vẫn phải mang một cái tên xấu xí: Bến Bêu.

Sau thất bại ở hồ Điển Triệt, tháng 9 năm 546, Lý Nam Đế  phải mở một con đường máu, rút vào động Khuất Lão. Khi vượt qua một cánh đồng hẹp, hai bên là gò cao, nước sông tràn qua đồng dội như thác, quân sĩ chết đuối đến quá nửa. Chỗ đó, nay gọi là Đề Thác. Để đánh lạc hướng quân địch, nhà vua đã trút bỏ chiến bào, tấm áo dầu dãi bao phen trận mạc ấy đã trôi dạt vào một góc hồ. Gần 15 thế kỷ trôi qua, nơi ấy bây giờ vẫn phảng phất sự linh thiêng với cái tên “Hóc Áo Trôi”.

Trải qua bao thăng trầm và những biến cố của lịch sử, cảnh quan hồ Điển Triệt nay không còn nguyên vẹn như xưa nhưng hồ vẫn giữ được vẻ huyền hoặc, cổ kính. Quanh hồ vẫn còn lưu lại dấu tích cha ông ta dựng thành hạ trại đánh giặc năm xưa với những cái tên bình dị, đơn sơ nhưng rất giàu ý nghĩa mà người dân vẫn gọi từ 15 thế kỉ trước. Năm 2019, hồ Điển Triệt được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh, từng bước, đang được đầu tư xây dựng thành điểm du lịch sinh thái, lịch sử.

Hồ Điển Triệt gắn với câu chuyện lịch sử về người  anh hùng dân tộc Lý Bí cùng hàng vạn nghĩa quân do ông chỉ huy, đã chiến đấu dũng cảm và hy sinh oanh liệt trên mảnh đất này cách đây hơn một nghìn năm trăm năm đã trở thành niềm tự hào sâu sắc, in sâu trong tâm thức mỗi người dân Tứ Yên, Sông Lô. Vì vậy mà hàng năm, vào các ngày 25, 26, 27 tháng Năm âm lịch, người dân nơi đây đã trang trọng, thành kính tổ chức lễ tiệc làng để tưởng nhớ công lao của vị anh hùng dân tộc Lý Nam Đế, đồng thời tổ chức hội bơi trải, ôn nhớ lại những trận thủy chiến hào hùng chống ngoại xâm của cha ông ta trên hồ Điển Triệt và dòng Lô giang xưa. Trong lễ vật dâng đức vua và các vị thánh, không thể thiếu được món chè kho, là món ăn dân dã quen thuộc của người Tứ Yên. Tuy nhiên, với sự thơm ngon và hương vị đặc biệt mà món ăn này đã đạt tầm đặc sản. Theo các bậc cao niên trong làng kể lại, thì, khi nhà vua và binh sĩ đánh giặc, dân làng Tứ Yên thường tiếp tế quân lương, trong đó có món chè kho độc đáo này. Nhờ cách chế biến khéo léo tinh tế của người dân Tứ Yên, món chè kho có thể để dành được nhiều ngày. Vì thế, mỗi khi quân sĩ xung trận, dân làng đã tiếp tế cho quan quân ta món ăn này để làm “cơm nắm”, “lương khô” giúp binh sĩ ấm bụng no lòng khi đi đánh giặc dài ngày. 

Có thể nói rằng, trên đất nước Việt Nam, mỗi địa danh không chỉ thuần túy là một tên gọi, mà còn là tâm hồn, là số phận của Nhân dân, là một câu chuyện, sự tích về hành trình mấy ngàn năm dân tộc ta dựng nước và giữ nước. Chính những câu chuyện về những tâm hồn, những số phận của con người trong quá khứ làm cho những địa danh kia có tâm hồn, làm cho nó sống mãi. Hồ Điển Triệt là một địa danh như vậy. Khi ráng chiều buông trên hồ, cũng là khi những đứa trẻ mục đồng nô đùa trong dòng nước mát lành của đầm Miêng, nơi bến nước, những người phụ nữ giặt giũ, nhẩn nha những câu chuyện thường nhật, trên bờ đầm, những cụ già phe phẩy chiếc quạt tre, vây quanh là những đôi mắt trong veo, đầy háo hức khi được nghe bậc cao niên kể chuyện về người anh hùng Lý Bí, những câu chuyện lịch sử, những câu chuyện có thật từ thời xa xưa… truyền lại cho hậu thế niềm tự hào, tình yêu, trách nhiệm với quê hương, đất nước… Cảnh ấy, hình ấy, luôn là bức tranh đẹp về một vùng quê yên bình.

Hồ Điển Triệt - một di tích lịch sử bên dòng Lô giang cùng chùa Hoa Long, đình Yên Lập, miếu Ông Nghè, đặc sản chè kho, lễ hội bơi trải… mãi là tình yêu, niềm tự hào, giữ một vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thân, tâm linh của người dân Tứ Yên.

BBT

Ngày đăng: 18/01/2021