Giới thiệu

 
Giới thiệu

Kinh tế huyện Sông Lô năm 2017

Năm 2017 sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện trong bối cảnh nhiều khó khăn như tình hình sản xuất nông nghiệp do thời tiết diễn biến bất thường, giá lợn hơi xuống thấp đã gây thiệt hại nặng nề cho người chăn nuôi, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân; công tác xây dựng Nông thôn mới ở các xã đăng ký đạt chuẩn còn chậm; công tác thu hút đầu tư còn hạn chế. Song, UBND huyện ngay từ đầu năm đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời kịp thời giải quyết tháo gỡ những vấn đề phát sinh trên các lĩnh vực… Do đó tốc độ phát triển giá trị sản xuất  năm 2017 ước  đạt 8,02% so với cùng kỳ, ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 1,11%; ngành công nghiệp, xây dựng cơ bản tăng 14,3%; ngành thương mại- dịch vụ tăng 8,59%.

1. Lĩnh vực kinh tế

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng nhẹ

Tổng giá trị sản xuất ngành nông - lâm nghiệp và thủy sản năm 2017 theo giá hiện hành đạt 1.241.723 triệu đồng, theo giá so sánh năm 2010 đạt 954.202 triệu đồng, tăng 1,11% so với cùng kỳ (CK).

+ Về nông nghiệp

- Về trồng trọt: 

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm: 9.673,3 ha bằng 97,7%KH, giảm 2,47%CK. Trong đó, cây lúa: 5.263,68ha, bằng 98,4%KH, tăng 6,02%CK; cây ngô: 1.936,81ha, bằng 98,3%KH, giảm 3,9%CK; cây lấy củ: 910,69ha, giảm 9,98%CK; cây có hạt chứa dầu: 681,01ha, giảm 16%CK; cây mía: 35,6ha, giảm 55,8%CK; cây rau đậu, hoa, cây cảnh: 675,05ha, tăng 4,8%CK; cây hàng năm khác: 150ha, tăng 1,15%CK. Năng suất lúa cả năm: 53,4 tạ/, đạt 100,7%KH và tăng 6,37%CK; năng suất ngô đạt 45,98 tạ/ha, tăng 4,1%CK. Tổng sản lượng lương thực (lúa, ngô): 37.015 tấn, vượt 5,75%KH, tăng 5,68%CK

- Về chăn nuôi  :Trong 6 tháng đầu năm tình hình chăn nuôi gặp nhiều khó khăn về thị trường tiêu thụ, giá lợn hơi giảm mạnh với mức giảm cao nhất trong 10 năm gần đây. Trước tình hình trên UBND huyện đã ban hành văn bản chỉ đạo các xã, thị trấn tập trung chỉ đạo ổn định sản xuất để đảm bảo chăn nuôi lợn ổn định bền vững, truyên truyền khuyến cáo người dân không chăn nuôi theo phong trào tự phát. Trong 6 tháng cuối năm, giá lợn hơi đã tăng nhưng vẫn ở mức thấp, chưa đủ để hòa vốn, kết hợp với giá nguyên liệu chăn nuôi vẫn ở mức cao khiến người chăn nuôi lợn càng thêm khó khăn, nhiều hộ nhỏ lẻ không còn nuôi lợn, các gia trại, trang trại vẫn tiếp tục nuôi nhưng đều có xu hướng giảm quy mô đàn.

Sản xuất Lâm nghiệp : Diện tích trồng rừng tập trung đạt 91ha rừng sản xuất, trồng cây phân tán đạt 152,5 nghìn cây. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 24%. Công tác PCCCR được đẩy mạnh, trong năm không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Công tác tuần tra, kiểm soát, quản lý khai thác, vận chuyển lâm sản trên địa bàn được duy trì. Qua kiểm tra phát hiện 3 vụ vi phạm, đã tiến hành xử phạt hành chính 14,3 triệu đồng. Sản lượng gỗ khai thác sơ bộ đạt 4160 m3.

Sản xuất thủy sản :  Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của huyện trong năm 2017 đạt 913.3 ha, bằng  98,84%% so cùng kỳ, Sản lượng thủy sản trong năm ước đạt trên 1.500 tấn bằng 102,13% so với cùng kỳ.

Thực hiện Chương trình xây dựng Nông thôn mới: Huyện tiếp tục chỉ đạo giữ vững các tiêu chí ở các xã đã được tỉnh công nhận đạt chuẩn Nông thôn mới. Đối với các xã đăng ký đạt chuẩn năm 2016: Tăng cường kiểm tra tiến độ thực hiện các tiêu chí, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ để đảm bảo hoàn thành chương trình theo đúng kế hoạch; hướng dẫn các xã hoàn thiện hồ sơ xét đạt chuẩn theo đúng quy định. Đối với các xã đăng ký đạt chuẩn năm 2017: UBND huyện tăng cường kiểm tra tiến độ, kết quả triển khai các tiêu chí; đôn đốc quyết liệt để thực hiện các tiêu chí còn lại, nhất là các tiêu chí về: giao thông, thiết chế văn hóa, môi trường để hoàn thành xây dựng Nông thôn mới vào cuối năm 2017 theo kế hoạch đề ra.

Phấn đấu kết thúc năm 2017, có thêm 02 xã được công nhận đạt chuẩn, nâng tổng số xã đạt chuẩn Nông thôn mới lên 12 xã; các xã còn lại đều đạt từ 11 đến 15tiêu chí. Tuy nhiên Chương trình xây dựng Nông thôn mới còn gặp nhiều khó khăn, nhất là nguồn vốn đầu tư hạn chế, sự đóng góp của người dân chưa nhiều.

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và các ngành dịch vụ tăng trưởng khá

Về  sản xuất TTCN: Chủ yếu vẫn ở các lĩnh vực: khai thác, sản xuất VLXD; may mặc, đồ gỗ, kim khí, đá mỹ nghệ, mây tre đan… tại các doanh nghiệp, các làng nghề và hộ cá thể. Hiện tại trên địa bàn huyện có 2 làng nghề chủ yếu là: mây tre đan tại Cao Phong; Đá mỹ nghệ tại Hải Lựu.  Ngoài ra ở các địa phương còn tiếp tục duy trì một số ngành nghề như:, may mặc, gò hàn, bóc gỗ, nghề mộc, chế biến lương thực, thực phẩm, khai thác đá xây dựng, sản xuất gạch không nung... Tuy nhiên, sản xuất trong lĩnh vực này còn nhỏ lẻ chưa có sự liên doanh liên kết; còn gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm; thu hút đầu tư còn nhiều hạn chế.

Thương mại – dịch vụ: Toàn huyện có 13 chợ, trên 4200  cơ sở tham gia hoạt động kinh doanh thương mại; dịch vụ, vận tải đáp ứng được các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu đi lại của người dân và lưu thông hàng hoá giữa các vùng miền, thúc đẩy kinh tế phát triển.

Công tác thu- chi ngân sách: Tổng thu NSNN ước thực hiện 751.905,9 triệu đồng, vượt 12%KH và vượt 3%CK. Trong đó, thu trên địa bàn 73.598,9 triệu đồng, vượt 139%KH và bằng 38%CK. Tổng chi NSNN ước thực hiện 651.020,1 triệu đồng, đạt 110%KH và tăng 2%CK.

Ngày đăng: 12/12/2017