Giới thiệu

 
Giới thiệu

Kinh tế huyện Sông Lô sau 10 năm thành lập

Sau 10 năm thành lập, kinh tế của huyện đã có sự thay đổi và phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm luôn đạt ở mức cao. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 10 năm giai đoạn 2009-2018 đạt 8,64%/năm, trong đó: ngành nông-lâm nghiệp, thủy sản tăng 4,95%/năm; ngành công nghiệp-xây dựng tăng 11,57%/năm và ngành dịch vụ tăng 9,98%/năm

Tăng trưởng kinh tế bình quân các giai đoạn:

+ Giai đoạn 2009-2010, tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 5,5%/năm, trong đó: ngành nông- lâm nghiệp, thủy sản tăng 2,27%/năm; ngành công nghiệp-xây dựng tăng 8,81%/năm và ngành dịch vụ tăng 6,85%/năm.

+ Giai đoạn 2011-2015, tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 9,78%/năm, trong đó: ngành nông- lâm nghiệp, thủy sản tăng 6,67%/năm; ngành công nghiệp-xây dựng tăng 11,14%/năm và ngành dịch vụ tăng 12,5%/năm.

+ Giai đoạn 2016-2018, tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 8,87%/năm, trong đó: ngành nông- lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,91%/năm; ngành công nghiệp-xây dựng tăng 14,17%/năm và ngành dịch vụ tăng 7,97%/năm.

Quy mô giá trị sản xuất (theo giá hiện hành) tăng thêm 2,97 lần, từ 1.468,14 tỷ đồng năm 2009 lên 4.358,93 tỷ đồng năm 2018. Giá trị sản xuất bình quân đầu người (theo giá hiện hành) liên tục tăng, năm 2009 mới chỉ đạt 16,54 triệu đồng/người, đến năm 2018 tăng lên 45,95 triệu đồng/người.

Cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch nhanh và đúng hướng, tỷ trọng ngành công nghiệp-xây dựng tăng từ 30,66% năm 2009 lên 39,97% vào năm 2018; ngành dịch vụ tăng từ 26,23% lên 30,77% và tỷ trọng ngành nông-lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 43,11% năm 2009 xuống còn 29,26% năm 2018.

*** Sản xuất nông-lâm nghiệp, thủy sản:

Sông Lô là huyện nông nghiệp, dân số tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn. Trong 10 năm qua, sản xuất nông-lâm nghiệp, thủy sản luôn được xác định là nhiệm vụ hàng đầu và được tập trung chỉ đạo quyết liệt. Cơ cấu cây trồng vật nuôi chuyển dịch theo hướng tích cực, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là giống, biện pháp thâm canh mới, chăn nuôi theo hướng công nghiệp, cơ giới hóa,...đã được áp dụng góp phần tăng năng suất, hiệu quả, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp.

- Về sản xuất nông nghiệp: Hằng năm, chỉ đạo tốt khung lịch thời vụ, sử dụng các giống cây trồng mới có năng suất, chất lượng cao. Các ngành dịch vụ cung ứng đủ giống, vật tư phân bón, thuốc trừ sâu. Công tác thủy lợi được coi trọng, đã tập trung đầu tư mới, nâng cấp nhiều công trình thủy lợi, cứng hóa kênh mương, đảm bảo đủ nước tưới phần lớn diện tích gieo trồng và giải quyết tiêu úng. Chỉ đạo khắc phục có hiệu quả những diễn biến bất thường của thời tiết, phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng, nên năng suất và sản lượng lương thực hằng năm đạt khá. Diện tích gieo trồng cây hằng năm tương đối ổn định, năng suất và sản lượng lương thực cây có hạt luôn tăng. Năm 2018, năng suất lúa bình quân đạt 57,1 tạ/ha, tăng 20,7% so với năm 2009; sản lượng lương thực cây có hạt (lúa, ngô) đạt 40.391,5 tấn, tăng 35,1% so với năm 2009; sản lượng lương thực bình quân đầu người đạt 400kg/người/năm, tăng 18,2% so với năm 2009.

Tình hình chăn nuôi trong 10 năm qua tuy gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng dịch bệnh, giá thức ăn chăn nuôi tăng cao, giá thành sản phẩm bấp bênh, vốn đầu tư giống lớn, .... Song huyện đã chủ động, chỉ đạo tích cực trong công tác phòng dịch, hỗ trợ vốn chăn nuôi, kiểm soát thị trường góp phần ổn định và phát triển ngành chăn nuôi. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng hằng năm luôn tăng, năm 2018 đạt 15.344,1 tấn, tăng 104% so với năm 2009.

- Về nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản ổn định trên 920 ha. Hình thức và đối tượng nuôi đa dạng, từng bước chuyển đổi dần từ hình thức nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến lên bán thâm canh và thâm canh, qua đó nâng cao năng suất và sản lượng hằng năm. Năm 2018, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 1.409,3 tấn, tăng 46,8% so với năm 2009; năng suất thủy sản nuôi trồng bình quân đạt 1,52 tấn/ha, tăng 50,5% so với năm 2009.

***Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:

Trên địa bàn huyện có 03 khu công nghiệp (KCN) Sông Lô 1, Sông Lô 2 và một phần của KCN Lập Thạch 1; 02 cụm công nghiệp và 02 khu đất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê. Để thúc đẩy phát triển công nghiệp, huyện đã quan tâm đầu tư kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông và coi đây là đòn bẩy để thu hút đầu tư. Đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh và những tiềm năng, lợi thế của huyện để thu hút đầu tư. Đến nay, cụm công nghiệp Đồng Thịnh có 01 nhà máy may đang hoạt động; KCN Sông Lô 1 đã được UBND tỉnh giao chủ đầu tư hạ tầng cho nhà đầu tư; KCN Sông Lô 2 đang có nhà đầu tư quan tâm, khảo sát và đề xuất. Những tiền đề trên là cơ sở cho triển vọng phát triển công nghiệp của huyện trong những năm tới.

Dịch vụ kinh doanh thương mại trên địa bàn huyện phát triển với sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế, chất lượng các dịch vụ nâng lên. Hàng hóa cung ứng trên thị trường đa dạng và phong phú, mạng lưới phân phối được mở rộng và phủ khắp đến các vùng nông thôn. Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, các chợ nông thôn được đầu tư khang trang, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt mua bán của nhân dân. Toàn huyện có 13 chợ truyền thống, trên 3.000 cơ sở hoạt động kinh doanh, 457 ô tô vận tải các loại và 185 tàu, thuyền các loại đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, đi lại của người dân và lưu thông hàng hóa giữa các vùng miền, thúc đẩy phát triển kinh tế. Công tác quản lý thị trường được thực hiện thường xuyên, chấn chỉnh kịp thời các hoạt động kinh doanh vi phạm pháp luật.

Năm 2017, UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch chung xây dựng tỷ lệ 1/5.000 phát triển du lịch, dịch vụ khu vực Núi Sáng, hồ Bò Lạc huyện Sông Lô đến năm 2030. Với quy mô khu du lịch cấp tỉnh, phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch cộng đồng; các trung tâm vui chơi giải trí; phát triển dịch vụ tổng hợp kết hợp phát triển thương mại và lâm nghiệp sinh thái tại khu vực núi Sáng, hồ Bò Lạc. Đến nay đã có nhiều nhà đầu tư quan tâm, tìm hiểu đề xuất đầu tư. Trong những năm tới ngành du lịch, dịch vụ sẽ có nhiều triển vọng phát triển.

- Dịch vụ Bưu chính, Viễn thông: Toàn huyện có 10 tổng đài điện thoại cố định, 18 thiết bị băng rộng cung cấp dịch vụ Internet và truyền hình MyTV, 17 trạm thu phát sóng BTS Vinaphone, 32 điểm dịch vụ viễn thông. Đến nay, số thuê bao đăng ký sử dụng viễn thông là 10.660 thuê bao các loại (chưa tính di động trả trước), doanh thu 10 năm ước đạt 245 tỷ đồng. Việc phát hành thư tín, báo chí đảm bảo kịp thời, an toàn, thuận lợi. So với năm 2009 thì số trạm thu phát sóng nhiều hơn, các dịch vụ điện thoại và Internet tốt hơn, đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ của người dân.

- Hoạt động tín dụng ngân hàng có nhiều cố gắng, tích cực huy động nguồn vốn, mở rộng cho vay hướng vào các nục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, các chương trình dự án, giải quyết việc làm, góp phần nâng cao thu nhập, xóa đói, giảm nghèo. Tổng nguồn vốn huy động trong 10 năm đạt 700 tỷ đồng. Năm 2018, vốn huy động đạt 850 tỷ đồng, tăng 3,5% so với năm 2009; trong đó nguồn vốn tự huy động trên địa bàn đạt 850 tỷ đồng, tăng 3,5% so với năm 2009; tổng dư nợ tín dụng là 810 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu giảm 0,2% so với năm 2009, đến nay còn 0,3%.

Ngân hàng chính sách xã hội hoạt động có hiệu quả, đã thực hiện tốt theo các chủ trương, chính sách của Nhà nước về người nghèo và các đối tượng chính sách. Thực hiện cho vay các đối tượng chính sách, học sinh sinh viên, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động...với mức lãi suất ưu đãi, vì vậy nhiều hộ gia đình đã thoát khỏi đói nghèo và đang vươn lên làm giàu. Tổng nguồn vốn huy động năm 2018 đạt 260 tỷ đồng, tăng 2,34 lần so với năm 2009.

Ban biên tập tổng hợp

Ngày đăng: 14/10/2019