Dành cho du khách

 
Dành cho du Khách

Đình Vân Nhưng

Đình Vân Nhưng tọa lạc tại thôn Vân Nhưng, xã Tân Lập, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, trong một khuôn viên hẹp, trên đỉnh một quả đồi nhìn về hướng Tây Bắc. Theo những tư liệu còn lưu giữ ở đình và lời kể của nhân dân địa phương thì đình Vân Nhưng thờ các vị thần Quý Minh đại vương và Ô Sơn đại vương là những bậc hiền tài đã có công giúp vua Hùng Duệ Vương dẹp giặc, giữ yên đất nước, phù giúp Nhân dân an cư lạc nghiệp. 

Quý Minh đại vương

Thời Hùng Duệ Vương, có một người tên là Nguyễn Hành ở động Lăng Xương, huyện Thanh Châu, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây, lấy vợ tên là Đầu Dụ. Hai vợ chồng làm nghề sơn tràng và đều là những người ăn ở nhân đức, được dân làng quý mến. Song, ông bà tuổi đã cao mà vẫn chưa sinh được con trai để nối dõi. Một đêm, bà Dụ năm mộng thấy có thần núi ứng vào giấc mộng, hiển linh mà bảo: Cả nhà ông, bà làm việc thiện, tất sẽ có phúc đức, trời cho hai vị sơn thần đầu thai làm con, ngày hôm sau chớ có đi xa. Thần nói xong liền biến mất. Bà Dụ tỉnh dậy kể với chồng, ông Hành cả mừng mà rằng ấy là điềm lành báo trước. Ngày hôm sau, bà Dụ vẫn cứ vào rừng như thường lệ, không ngờ đến ngang đường bà gặp hổ, bà sợ hãi đi lùi một bước thì hổ lại tiến lên một bước, cứ như vậy cho đến khi về nhà. Từ đó bà có thai, đến kỳ sinh ra một bọc có 2 người con trai tướng mạo khôi ngô khác thường.

Ông bà đặt tên cho con, một người tên Sùng Hiệu là Cao Sơn, một người tên Hiểu Hiệu là Quý Minh. Năm hai con lên 7 tuổi ông bà cho đi học, đến năm 13 tuổi, Cao Sơn và Quý Minh đã nổi tiếng học lực tinh thông, thuộc làu binh thư, giỏi giang võ nghệ, một mình một giáo có thể địch hàng vạn người khỏe mạnh. Năm hai ông 18 tuổi thì cha mẹ đều qua đời, hai ông tìm nơi đất đẹp an táng cha mẹ rồi cùng nhau lên kinh ứng thí theo lời hịch của vua Hùng khi ấy đang ra chiếu chỉ tìm hiền tài. Hùng Duệ Vương thấy hai ông ứng đối lưu loát, văn võ toàn tài liền cho ở lại trong triều, hết sức trọng dụng.

Lại nói thời đó Hùng Duệ Vương sinh được hai con trai nhưng chằng may đều mất sớm. Lúc ấy, có Tản Viên Sơn Thánh người ở động Lăng Xương, tên họ là Nguyễn Tùng hiệu là Tuấn Tĩnh, vốn là người có kỳ tài, thông hiểu phép thuật, có thể dời non lấp biển. Vua cho là người có một không hai trong thiên hạ bèn gả con gái cho và định cho chàng làm người kế vị. Lúc đó, Thục Phán là bộ chủ bộ Ai Lao, cũng người dòng dõi họ Hùng, nghe tin vua Hùng định truyền ngôi cho con rể bèn phát binh tiến đánh.

Hùng Duệ Vương lo lắng, cho triệu Tản Viên Sơn Thánh vào chầu bàn kế đánh Thục. Sơn Thánh tâu rằng: Bậc vua thánh vua hiền thì việc quan trọng nhất là làm sao để được hai chữ Nhân và Hậu cho dân cho nước. Nay nước nhà đang lúc lâm nguy, trời giúp đỡ cho hai anh tài là Cao Sơn và Quý Minh, sức hai vị ấy bằng hàng trăm thân sông, thần núi, hai vị xuất trận tất giặc Thục tan vỡ mà bỏ chạy, đánh giặc sẽ dễ như trở bàn tay vậy. Nay xin bệ hạ nghe lời thần, cử Cao Sơn và Quý Minh làm Tả - Hữu tướng quân dẫn quân đi tiên phong, tuần phòng mọi bất trắc, còn bề tôi nguyện đem hết sức mình dẹp quân Thục.

Vua Hùng cả mừng bèn cho triệu Cao Sơn và Quý Minh vào triều, phong cho Cao Sơn là Tả tướng quân Chỉ huy sứ, phong cho Quý Minh là Hữu tướng quân Chỉ huy sứ. Hai ông vâng mệnh, hăm hở một lòng ra trận báo ơn vua. Cao Sơn cất quân tuần hành các đạo ở phía Bắc, Quý Minh đem quân tuần hành ở các châu Đại Man. Qua huyện Lập Thạch, đến làng Gia Hòa (Vân Nhưng, Vân Trục ngày nay), ông coi địa thế rồi cho lập một đồn binh ở đây để phòng quân Thục. Nam phụ lão ấu trong vùng thấy uy danh của ông bèn vâng theo và nhất nhất xin làm thần tử. Ông bằng lòng và cho phép dân làng được lấy chỗ đồn sở làm nơi thờ cúng sau khi ông mất đi. Sáng hôm sau, có sứ giả mang chiếu vua ra lệnh cho ông đi đánh giặc ở châu Đại Man. Ông cho quân thủy tiến đánh một trận thắng lợi vang dội.

Về sau, Thục Phán cầu hòa, vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán và cùng Sơn Thánh, Cao Sơn, Quý Minh ngao du sơn thủy, rồi cùng bay lên trời mà biến mất, trở nên sinh hóa bất diệt.

Sau khi Quý Minh hóa về trời, dân các làng Gia Hòa (trong đó có thôn Vân Nhưng, Vân Trục) liền tôn tạo lại đồn sở thành nơi thờ cúng.

Trải qua các thời kỳ, thần hiển linh âm phù giúp dân, giúp nước nên được tôn là “thượng đẳng thần”, được các triều vua về sau ban sắc, gia phong mỹ tự, truyền cho nhân dân địa phương theo trước mà phụng sự, đời đời hương hỏa không dứt.

Ô Sơn đại vương

Tương truyền ngài cũng là một vị thần đã có công giúp Tản Viên Sơn Thánh và Quý Minh đại vương đánh giặc thời Hùng Duệ Vương. Ngài được sắc phong là Bản cảnh thành hoàng, Thượng đẳng thần.

Sắc phong cho các vị thần được thờ ở đình Vân Nhưng

Các vua Triều Nguyễn có ban sắc phong tôn vinh các vị thần được thờ ở đình Vân Nhưng. Bản sắc phong gốc không còn nhưng nội dung của những sắc phong này còn được ghi lại trong bản kê khai thần tích, thần sắc của làng Vân Nhưng năm 1938, cụ thể như sau:

- Sắc thứ nhất: Duy Tân năm thứ 3 (1909)

Phiên âm: Sắc Vĩnh Yên tỉnh, Lập Thạch huyện, Gia Hòa xã, tòng tiền phụng sự “Hiển ứng, anh thông, linh tế, linh diệu, định cát, tuấn tĩnh, dực bảo trung hưng Quý Minh thượng đẳng thần”, “Bảo an, chính trực, hựu thiện, đôn ngưng, dực bảo trung hưng Trĩ Sơn thành hoàng chi thần”, “Hùng trấn Dực bảo trung hưng Ô Sơn chi thần”, tiết kinh ban cấp sắc phong, chuẩn kỳ phụng sự.

Duy Tân nguyên niên, tấn quang đại lễ, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, đặc chuẩn y cựu phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển.

Khâm tai.

Duy Tân tam niên bát nguyệt thập nhất nhật

Dịch nghĩa: Sắc ban cho xã Gia Hòa, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên, từ trước thờ vị “Hiển ứng, anh thông, linh tế, linh diệu, định cát, tuấn tĩnh, dực bảo trung hưng Quý Minh thượng đẳng thần”, “Bảo an, chính trực, hựu thiện, đôn ngưng, dực bảo trung hưng Trĩ Sơn thành hoàng chi thần”, “Hùng trấn Dực bảo trung hưng Ô Sơn chi thần”, các vị đã được các triều trước ban cấp sắc phong, cho phép phụng thờ.

Năm Duy Tân nguyên niên (1907) trẫm làm lễ lên ngôi, đã ban chiếu báu, tỏ rõ ơn sâu, lễ cao thăng trật, cho phép theo như trước phụng thờ để ghi nhớ ngày vui của đất nước và coi trọng việc thờ cúng. Hãy kính lấy.

 Ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3 (năm 1909).

- Sắc thứ hai: Khải Định năm thứ 9 (1924)

Bản sắc này được kê khai lại vào năm Bảo Đại năm thứ 13 (1938). Nội dung bản sắc kê khai bằng chữ Hán như sau:

Phiên âm: Bảo Đại thập tam niên tam nguyệt tứ nhật Gia Hòa xã, Vân Nhưng thôn hương lão thừa khai sắc chỉ.

Sắc Vĩnh Yên tỉnh, Lập Thạch huyện, Gia Hòa xã, Vân Nhưng thôn tòng tiền phụng sự nguyên tặng “Hiển ứng, anh thông, linh tế, linh diệu, định cát, tuấn tĩnh, dực bảo trung hưng Quý Minh thượng đẳng thần”, “Bảo an, chính trực, hựu thiện, đôn ngưng, dực bảo trung hưng bản cảnh thành  hoàng Ô Sơn đại vương tôn thần”, hộ quốc tí dân, nẫm trứ linh ứng, tiết mông ban cấp sắc phong, chuẩn hứa phụng sự.

Tứ kim chính trị trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, Quý Minh thượng đẳng thần đặc chuẩn y cựu phụng sự, Thành hoàng Ô Sơn tôn thần trứ gia tặng “Khắc tĩnh thượng đẳng thần”, đặc chuẩn phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển. Khâm tai.

Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật

Dịch nghĩa:

Ngày 14 tháng 3 năm Bảo Đại thứ 13 (1938), các vị hương lão thôn Vân Nhưng xã Gia Hòa tuân lệnh trên kê khai thần sắc.

Sắc ban cho thôn Vân Nhưng, xã Gia Hòa, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên, từ trước thờ các vị thần vốn được tặng “Hiển ứng, anh thông, linh tế, linh diệu, định cát, tuấn tĩnh, dực bảo trung hưng Quý Minh thượng đẳng thần”, và “Bảo an, chính trực, hựu thiện, đôn ngưng, dực bảo trung hưng bản cảnh thành  hoàng Ô Sơn đại vương tôn thần”, yêu nước thương dân, tỏ rõ linh ứng, đã được các triều trước ban cấp sắc phong, cho phép phụng thờ.

Đến nay, đúng dịp trẫm mừng thọ tứ tuần đại khánh tiết, đã ban chiếu báu tỏ rõ ơn sâu, lễ cao thăng trật, phong là Quý Minh thượng đẳng thần, theo như trước thờ cúng, gia tăng vị “Thành hoàng Ô Sơn tôn thần” là “Khắc tĩnh thượng đẳng thần”, cho phép phụng thờ để ghi nhớ ngày vui của đất nước và  coi trọng việc thờ cúng. Hãy kính lấy.

Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (năm 1924)

Lịch sử xây dựng và kiến trúc đình

Đình Vân Nhưng được xây dựng cách nay ít nhất trên 100 năm. Vào khoảng đầu thế kỷ XX, đình Vân Nhưng là một ngôi đình có quy mô tương đối lớn. Sau do chiến tranh nên đình bị phá (năm 1961). Đến năm 2009, nhân dân địa phương phục dựng lại đình ở vị trí hiện nay, cách nền đình cũ khoảng 100m.

Đình Vân Nhưng có bố cục kiến trúc theo kiểu chữ Đinh (丁). Quy mô đình gồm có hai tòa: Đại bái ba gian, hai dĩ, kích thước 12,5m x 6,2m, xây tường bao, bít đốc, có 14 cột tròn bằng bê tông giả gỗ, hệ thống khung mái bằng gỗ theo kiểu chồng rường giá chiêng, được bào trơn bóng bén, đơn giản nhưng chắc khỏe.

Hậu cung một gian, kích thước 4m x 5m, nền lát gạch đỏ, mái lợp ngói mũi, vì nóc cũng được kết cấu theo kiểu thức kèo suốt, quá giang gối tường. Phía trong được nâng sàn lên cao 1,5m làm khám thờ, đặt long ngai, bài vị của thánh.

Nhìn chung, ngôi đình có kiến trúc đơn giản nhưng chắc khỏe, tuy được xây dựng bằng vật liệu hiện đại nhưng dáng dấp vẫn mang những nét đẹp của một ngôi đình truyền thống làng Việt.

Các hiện vật trong di tích

Di vật, cổ vật

- Về đồ gỗ có hai đài, cao 28cm;

- Về đồ sành, sứ có một chén nhỏ cao 4cm, đường kính miệng 5cm.

Hiện vật mới

 - Về đồ gỗ, gồm có:

+ Hai long ngai, bài vị, cao 100cm x 60cm x 50cm;

+ Một hòm sắc, kích thước 12cm x 37cm x 12cm;

+ Hai mâm bồng, cao 22cm, đường kính 40cm;

+ Hai cây nến, cao 58cm;

+ Một mâm xà, kích thước 25cm x 60cm x 40cm;

+ Bảy đài, gồm hai chiếc cao 26cm, ba chiếc cao 22cm, hai chiếc cao 16cm;

+ Hai ống hương, cao 32cm;

+ Một câu đối lòng mo, kích thước 215cm x 30cm, chữ Hán, phiên âm như sau:

德大安民天古盛
公高戶國萬年成

Đức đại an dân thiên cổ thịnh

Công cao hộ quốc vạn niên thành

Có nghĩa là:

Đức lớn yên dân muôn thủa thịnh

Công cao giúp nước mãi trường tồn

+ Một bức đại tự, kích thước 210cm x 60cm, chữ Hán, nội dung ghi: “Thượng đẳng tối linh”, có nghĩa là………….;

+ Một bảng chúc, kích thước 30cm x 40cm;

+ Một chiếc trống, cao 60cm, đường kính mặt trống 75cm.

- Về đồ sứ, gồm có:

+ Hai ống hoa, cao 40cm;

+ Ba bát hương, trong đó, một bát cao 22cm, đường kính 25cm, hai bát còn lại cao 18cm, đường kính 20cm;

+ Hai be rượu, cao 18cm.

- Về đồ đồng, gồm có:

+ Một chiếc chuông bát, cao 8cm, đường kính 8cm;

+ Một chiếc chuông, cao 42cm, đường kính 22cm.

Sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng

Trước kia, vào ngày mùng 3, mùng 4 tháng Giêng hằng năm, tại đình Vân Nhưng diễn ra lễ hội khai xuân và mừng ngày sinh thánh. Đây cũng là lễ hội chính, lớn nhất của làng. Ngày mùng 3 cáo tế. Ngày mùng 4 là chính hội. Ngày này có tổ chức rước kiệu thánh từ miếu Nghè* và rước kiệu lễ từ nhà chủ tế ra đình để tế lễ. Ngoài phần lễ còn có phần hội với các trò chơi dân gian như: chọi gà, đấu vật, cờ tướng, kéo co bằng dây thừng lớn…Đặc biệt có trò chơi “cướp dừa”, một hình thức khác của tục cướp cầu cầu đinh khá phổ biến ở Vĩnh Phúc. Trò chơi thực hiện sau khi tế xong, chủ tế đem quả dừa đã được cúng thánh tung ra ngoài cho mọi người tranh cướp, trương truyền ai cướp được quả dừa thì sẽ sinh được con trai. Buổi tối còn có hát nhà tơ (thuê đám hát nơi khác đến)…Lễ vật dâng thánh trong lễ hội này có: thịt lơn, xôi chè, bánh dày, chè kho…

Giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ của di tích

Đình Vân Nhưng thờ Quý Minh đại vương và Ô Sơn đại vương, tương truyền là các vị thần đã có công giúp vua Hùng Duệ Vương dẹp giặc, giữ yên đất nước, bảo trợ, chở che Nhân dân an cư lạc nghiệp. Giá trị nghệ thuật của ngôi đình thể hiện ở kết cấu kiến trúc tương đối thoáng đẹp, mang dáng dấp đình làng Việt truyền thống thời cận hiện đại. Đình mới được phục dựng, tôn tạo nên còn tương đối chắc khỏe, bền vững. Đình có vị trí đẹp, thể hiện sự hài hòa giữa kiến trúc và tổng thể cảnh quan không gian xung quanh.

Đình Vân Nhưng được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh năm 2012

BBT

Ngày đăng: 18/01/2021