Dành cho du khách

 
Dành cho du Khách

Đình Đôn Mục

Đình Đôn Mục có diện tích 875,8 m2, tọa lạc tại thôn Đôn Mục, xã Đôn Nhân, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; vốn được tạo nên từ 2 làng cổ là Đôn Mục và Nhân Mục, trong đó 3 thôn là Dân Chủ, Đôn Mục, Trung Kiên thuộc làng Đôn Mục cổ có chung một ngôi đình là đình Đôn Mục.

Qua các thời kỳ lịch sử, địa danh Đôn Mục đã có nhiều thay đổi về tên gọi. Từ tháng 4 năm 2009, địa danh Đôn Mục thuộc xã Đôn Nhân ngày nay.

Đình Đôn Mục thờ Tể tướng Lữ Gia - người đã có công giúp vua nhà Triệu chống giặc phương Bắc giữ nước, cứu dân vào khoảng những năm cuối Công nguyên.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lữ Gia (hay Lã Gia, chữ Hán: 呂嘉, ? - 111 TCN), tên hiệu là Bảo Công (保公) là Tể tướng (Thừa tướng) bốn đời (cũng có tài liệu nói là ba đời) nhà Triệu, từ Triệu Văn Vương (136 - 125 TCN), Triệu Minh Vương (124 - 113 TCN), Triệu Ai Vương (112 TCN) và Triệu Dương Vương (Thuật Dương Vương, 112 - 111 TCN).

Là người văn võ song toàn, nên Thừa tướng Lữ Gia được Triệu Văn Vương tín nhiệm. Khi Minh Vương lên ngôi thì lấy Lữ Gia làm Thái phó (124 TCN). Lữ Gia tuổi cao chức trọng, người trong họ làm trưởng lại đến hơn 70 người, con trai đều lấy con gái vua, con gái đều gả cho con em vua và người tôn thất, cùng thông gia với Tần Vương Triệu Quang ở đất Thương Ngô. Trong nước Nam Việt, ông được lòng dân hơn cả vua. Lữ Gia nhiều lần dâng thư can Ai Vương nhưng Ai Vương không nghe. Các quan đại thần đều kính nể.

Minh Vương Triệu Anh Tề đã có con lớn là Triệu Kiến Đức với một bà vợ người Việt, nhưng vì yêu Cù Hậu là người Hán nên lập con nhỏ của Cù Hậu là Triệu Hưng lên thay. Năm 113 TCN, Minh Vương chết. Hưng nối ngôi, tức là Ai Vương.

Trước kia, Thái hậu chưa lấy Minh Vương, đã từng thông dâm với An Quốc Thiếu Quý người Bá Lăng. Năm ấy nhà Hán thấy nước Nam Việt vua nhỏ nên sai An Quốc Thiếu Quý sang dụ Triệu Ai Vương và Thái hậu vào chầu, như đối với các chư hầu nhà Hán, lại sai Biện sĩ là Gián nghị đại phu Chung Quân tuyên dụ, Dũng sĩ là Ngụy Thần giúp việc, Vệ úy Lộ Bác Đức đem quân đóng ở Quế Dương để đợi sứ giả.

Vua còn ít tuổi, Thừa tướng là người giữ nước, trọng trách này đặt gánh nặng lên vai Thừa tướng. Trong nước, vua và Thái hậu muốn lệ thuộc vào nhà Hán. Oái oăm thay nhà Hán cho An Quốc Thiếu Quý sang dụ Nam Việt về chầu nhà Hán. Thiếu Quý là tình nhân cũ của Cù Thị đến khi sang Nam Việt gặp nhau lại tư thông với nhau rồi dỗ dành Ai Vương đem nước Nam Việt về dâng cho nhà Hán, sai bọn biện sỹ là Ngụy Thần đi theo để giúp việc khi cần thiết, sai Vệ úy Lộ Bác Đức đem quân mã đóng ở Quế Dương để uy hiếp. Lại sai sứ ban riêng cho Thừa tướng Lữ Gia một quả ấn bạc, bào tía, đai ngọc thao xanh để mua chuộc.

Lộ Bác Đức tâu với vua Hán: Nước Nam Việt chỉ có Bảo Công (Lữ Gia), Lang Công (Nguyễn Danh Lang) là hai tướng tài, mưu lược trí dũng như thánh như thần, quân ta khó mà thắng được. Kế tốt nhất là dùng mưu chứ không thể dùng vũ lực.

Lộ Bác Đức bèn sai quân mang nghìn nén vàng đến đút lót bọn cận thần của Ai Vương, dùng kế ly gián vua tôi. Bọn gian thần Ngô Quyên, Lý Ước bị mua chuộc đã tâu Ai Vương: “Hai tướng Bảo, Lang bắt được tướng Hán lại tha không giết là vì có âm mưu phản quốc, giảng hoà với nhà Hán”. Mẹ con Ai Vương nghe theo, giáng chức Nguyễn Danh Lang làm Huyện lệnh Thiên Thi (Ân Thi, Hưng Yên ngày nay), Lữ Gia làm Huyện lệnh Phong Châu. Nguyễn Danh Lang về đến quê thì mất, còn Lữ Gia về Phong Châu xây thành đắp lũy chống Hán.

Đến năm 112 TCN, vua và thái hậu sửa sang hành trang của cải vào chầu vua Hán, Thừa tướng can ngăn mà không được. Ông nhiều lần không vào chầu mà thường cáo ốm, không tiếp sứ giả nhà Hán, các sứ giả đều chú ý đến Thừa tướng, nhưng chưa thể giết được. Vua và thái hậu cũng sợ Lữ Gia khởi sự trước muốn nhờ sứ giả nhà Hán trù mưu giết Lữ Gia nên mở tiệc mời quan đại thần cùng sứ giả, Lữ Gia vào hầu rượu. Em Lữ Gia là tướng Lữ Cường đem quân đóng ở ngoài cung.

Khi uống rượu Thái hậu bảo Lữ Gia rằng: Nam Việt nội thuộc (Trung Quốc) là lợi cho nước nhà, thế mà tướng quân lại cho là bất tiện là vì cớ gì ?. Ý Cù thái hậu muốn chọc tức sứ giả. Sứ giả còn đang hoài nghi chần chừ. Lữ Gia thấy tai mắt họ có vẻ khác thường lập tức đứng dậy đi ra. Thái hậu giận lắm muốn lấy giáo đâm Lữ Gia thì vua ngăn lại. Lữ Gia bèn ra chia lấy quân lính của em dẫn về nhà, cáo ốm không chịu gặp vua và sứ giả, ngầm cùng các đại thần chống đối. Triệu Ai Vương vốn nể uy tín của Lữ Gia nên không có ý giết ông. Lữ Gia biết thế nên đến mấy tháng không hành động gì. Thái hậu muốn giết Gia nhưng sức không làm nổi.

Nhà Hán nghe tin Lữ Gia không tuân lệnh mà vua và thái hậu đơn chiếc yếu đuối không chế ngự được, sứ giả thì nhút nhát không quyết đoán, lại thấy rằng vua và thái hậu đã nội phụ rồi, chỉ còn Lữ Gia làm loạn không đáng dấy quân bèn muốn sai Trang Sâm đem 2000 người sang sứ. Trang Sâm nói: “Lấy sự hòa hiếu mà sang thì vài người cũng đủ rồi, lấy võ lực sang thì 2000 người không làm được gì”. Sâm từ chối không nhận. Hán đế bèn bãi chức Trang Sâm. Tướng Tề Bắc cũ là Hán Thiên Thu hăng hái nói: “Một nước Việt cỏn con lại có vương và thái hậu làm nội ứng, chỉ một mình thừa tướng làm loạn, tôi xin cấp 300 dũng sỹ thế nào cũng chém được đầu Lữ Gia báo về.” Hán Vũ Đế bèn sai Thiên Thu và em Cù Thái hậu là Cù Lạc đem 2.000 người tiến vào đất Nam Việt.

Thừa tướng Lữ Gia hạ lệnh trong nước rằng: “Vua còn nhỏ tuổi, Thái hậu vốn là người Hán cùng với sứ giả nhà Hán dâm loạn, chuyên ý muốn nội phụ đem hết đồ châu báu của tiên vương dâng cho nhà Hán để nịnh, đem nhiều người đi theo đến Trường An bắt bán làm đầy tớ, chỉ nghĩ đến mỗi lợi một thời chứ không đoái gì đến xã tắc họ Triệu và lo kế muôn đời”. Bèn cùng với em là Lữ Cường đem quân tiến đánh, giết vua và thái hậu cùng tất cả sứ giả nhà Hán, rồi sai người đi báo cho Tần Vương Triệu Quang ở Thương Ngô và các quận ấp, lập con trưởng của Triệu Minh Vương là Thuật Dương hầu Kiến Đức làm vua, tức là Triệu Thuật Dương Vương.

Tháng 10 năm 112 TCN, quân của Hàn Thiên Thu tiến vào Nam Việt, đánh phá một vài ấp nhỏ.

Lữ Gia bèn mở một đường thẳng để cấp lương cho quân. Khi quân nhà Hán đến còn cách Phiên Ngung 40 dặm, thì ông xuất quân đánh, giết được bọn Thiên Thu. Sau đó ông sai người đem sứ tiết của nhà Hán cho vào trong hòm để trên núi Tái Thượng (tức là đèo Đại Dũ) dùng lời khéo để tạ tội, một mặt phát binh giữ chỗ hiểm yếu. Ông chất đá giữa sông gọi là Thạch Môn.

Hán đế nghe tin Thiên Thu bị giết, liền sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức xuất phát từ Quế Dương, Lâu thuyền tướng quân Dương Bộc xuất phát từ Dự Chương, Qua thuyền tướng quân Nghiêm xuất phát từ Linh Lăng, Hạ lại tướng quân Giáp đem quân xuống Thương Ngô, Trì Nghĩa hầu Quý đem quân Dạ Lang xuống sông Tường Kha, đều hội cả ở Phiên Ngung, số quân lên tới 30 vạn người kéo vào nước Nam Việt.

Khi các cánh quân Hán cùng tiến sâu vào đất Nam Việt, thấy thế giữ kinh thành không được, Triệu Dương Vương cùng triều thần lên thuyền ra biển rồi xuôi về giữ thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay), chỉ còn Lữ Gia và các viên tướng người họ Lã cùng quân binh và dân binh ở lại, trấn giữ thành và các nơi trọng yếu. Ở mạn Tây Bắc, Lữ Gia trực tiếp chỉ huy 15 vạn quân dân, đối đầu trực tiếp với cánh quân của Lộ Bác Đức. Ở mạn Bắc, một cánh quân khác gồm 5 vạn người do Lữ Tuấn, Lữ Đạt (hai người con của Lữ Gia) chỉ huy, đánh bại cánh quân của Dương Bộc, khiến chúng phải lui về vùng hồ Động Đình. Ở phía Nam, cánh quân 3 vạn người đi theo phò tá triều đình Thuật Dương Vương về đến Đại La do Lữ Điển (cháu họ của Lữ Gia) chỉ huy, cũng đánh lui một cánh quân khác của nhà Hán bám theo truy đuổi ở cửa Thần Phù, khiến chúng phải rút lui vào vùng Diễn Châu (Nghệ An).

Lộ Bác Đức, Dương Bộc cùng hai viên tướng Nghiêm, Giáp ở Thương Ngô, tất cả bốn hướng, cùng tiến công về phía Phiên Ngung. Bên phía Nam Việt, tuy quân số đông nhưng phần lớn đều là dân binh chưa qua tập luyện, nên không thể chống cự lại được với quân Hán vốn bao gồm toàn là những tinh binh thiện chiến.

Quân Nam Việt bỏ thành Phiên Ngung, rút lui dần về phía Nam, nhưng qua mỗi chặng, đều bố trí các lực lượng ở lại chốt giữ những nơi trọng yếu. Thấy các mũi tiến công đều bị kháng cự lại quyết liệt, Lộ Bác Đức, Dương Bộc bèn dùng mưu, sai Trang Trợ mang vàng bạc tới đút lót cho Ngô Quyên, Lý Ước - hai viên tướng bên phía Nam Việt mà chúng vốn quen biết từ trước. Hai kẻ nội gian này bí mật về tâu với Thuật Dương Vương ở thành Đại La rằng Lữ Gia ở bên ngoài đã hòa ước với giặc, đang kéo quân về làm phản. Vua Nam Việt hồ đồ tin là thực, bèn xuống chiếu bãi chức Thừa tướng của Lữ Gia, giáng xuống làm Huyện doãn Phong Châu. Khi nhận chiếu chỉ, Lữ Gia không hề oán giận đã mang quân về trấn giữ Phong Châu ngay. Phong Châu, nguyên y là vùng Kinh đô cũ của các vua Hùng kéo dài tới 2.622 năm. Đó cũng là nơi có Phong Khê và Thành Ốc của Thục An Dương Vương, và khi Triệu Vũ Đế Nguyễn Thận đánh bại Thục Vương để giành lại nước, thì cũng đã đến đóng đô tại đây trong nhiều năm, đến gần cuối đời mới di chuyển lên Phiên Ngung.

Đất Phong Châu đó, thời Bắc thuộc gọi là Cổ Lôi, thời Lý là Đại Lôi, tên nôm gọi là tổng Sốm (do biến âm từ “Sấm” tức “Đại Lôi” mà ra), là địa phận hai xã Phú Lãm - Phú Lương đầu huyện Thanh Oai thuộc Hà Nội ngày nay.

Ở Phong Châu, Lữ Gia củng cố lực lượng, chiêu mộ thêm dân binh tới mấy ngàn người, rồi chia nhau đi chống giữ các nơi xung yếu. Hai người vợ của Lữ Gia, thời trẻ vốn đã tinh thông côn quyền đao kiếm, cũng lên đường chỉ huy những cánh quân nhỏ cùng các tướng đánh vào các doanh trại của giặc vào ban đêm, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Tuy nhiên, hướng tiến công chính của Lộ Bác Đức, Dương Bộc lúc bấy giờ lại là thành Đại La, nơi có Triệu Dương Vương cùng triều thần đang trấn giữ. Trước sức tiến công ồ ạt của quân giặc, triều đình Nam Việt chống giữ không nổi, đã phải đầu hàng. Hạ xong thành Đại La, Lộ Bác Đức, Dương Bộc lập tức tiến công vào Phong Châu, nhưng trước sự chống trả quyết liệt của quân dân Nam Việt, chúng không tiến lên được.

Mùa đông 111 TCN, Dương Bộc nhà Hán đem 9000 tinh binh đánh lấy Tầm Hiệp rồi phá Thạch Môn lấy được thuyền thóc của ta, kéo luôn cả các thuyền ấy đi, đem mấy vạn người đợi Lộ Bác Đức. Bác Đức cùng Dương Bộc hội quân tiến đến Phiên Ngung. Triệu Thuật Dương Vương và Lữ Gia đến trước giữ thành. Dương Bộc đến Phiên Ngung, đóng ở phía Đông Nam thành, Lộ Bác Đức đóng ở mặt Tây Bắc.

Gặp đêm trời tối, gió to, quân Hán tung lửa vào đốt thành. Đến gần sáng cổng thành phía Đông Nam bị quân Hán vây hãm chặt không thể thoát ra ngoài được. Thừa tướng cùng các tướng sĩ trung kiên mở đường máu đánh tan toán quân phía Tây Phiên Ngung do Tư Mã Tô Hoàng chiếm giữ.

Thừa tướng cùng quân Nam Việt và Triệu Dương Vương vượt qua ngoài vòng vây. Đánh bọn lâu thuyền cướp thuyền chạy ra biển Đông đổ bộ lên vùng Thiên Bản (Vụ Bản - Nam Định).

Đến Thiên Bản (là quê ngoại), thừa tướng kêu gọi nhân dân cùng nhà vua chống giặc Hán. Được nhân dân ủng hộ, đội quân của Triệu Dương Vương ngày một đông. Đến lúc này trong quân của thừa tướng chỉ chọn người gốc Âu Việt và Lạc Việt đứng lên chống Hán.

Đóng tại 3 căn cứ là Bạch Hạc, Sài Sơn và Trang Nghiêm (Thiên Bản - Vụ Bản thuộc Nam Định ngày nay) là nơi hiểm yếu cho thủy quân nhà Hán có thể đổ bộ đánh vào Âu Lạc vì thế nên thừa tướng đóng giữ. Bạch Hạc là do tướng Phạm Thông Nguyễn Đức, Đinh Tuấn đóng giữ còn Triệu thành thì do tướng Lữ Cường và Triệu Dương Vương các quan đại thần và gia quyến nội thất trong triều đình.

Sau thời gian củng cố binh mã, quân Hán tiến đánh Bạch Hạc lần thứ nhất bị các tướng Phạm Thông, Nguyễn Đức, Đinh Tuấn đánh cho thua liểng xiểng. Giặc phải tạm lui, lập mưu cho Chu Năng trá hàng để làm nội ứng. Thấy Chu Năng là người Việt, Triệu Dương Vương thu nhận và cho đóng quân ở Lãng Công, Lập Thạch (nay thuộc huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc) đưa quân về Bạch Hạc về tăng cường cho Triệu thành.

Khi quân Hán tiến công, Chu Năng đem quân phối hợp với quân Hán đánh ra. Quân Triệu Dương Vương thua nặng. Triệu thành thất thủ, Triệu Dương Vương cùng các quan đại thần và tàn quân chạy lên núi Sài Sơn (trong quần thể khu vực chùa Thầy, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội ngày nay) cố thủ ở hang Cắc Cớ, bị địch vây chặt, cuối cùng vua tôi đều tử tiết trong hang. Đến nay trong hang Cắc Cớ vẫn còn di cốt của quân tướng nhà Triệu đã hóa thạch.

Sau khi chiếm được Triệu thành, quân Hán tiến đánh Trang Nghiêm - căn cứ cuối cùng của quân Âu Lạc. Quân Hán tiến đánh ào ạt, vây chặt 4 mặt, một trận chiến không cân sức một chọi mấy trăm.

Triệu Thuật Dương Vương và Lữ Gia cùng giữ thành. Dương Bộc tự chọn chỗ thuận tiện đóng ở mặt Đông Nam, Lộ Bác Đức đóng ở mặt Tây Bắc.

Vừa chập tối, Dương Bộc đánh bại quân Triệu, phóng lửa đốt thành. Bác Đức không biết quân trong thành nhiều hay ít bèn đóng doanh, sai sứ chiêu dụ. Ai ra hàng đều được Đức cho ấn thao và tha cho về để chiêu dụ nhau. Dương Bộc cố sức đánh, đuổi quân Triệu chạy ngược vào dinh quân của Lộ Bác Đức. Đến tờ mờ sáng thì quân trong thành đầu hàng. Triệu Dương Vương và Lữ Gia cùng với vài trăm người, đang đêm chạy ra biển.

Bác Đức lại hỏi những người đầu hàng biết chỗ ở của Lữ Gia, bèn sai người đuổi theo. Hiệu úy Tư mã là Tô Hoằng (蘇弘) bắt được Kiến Đức, Quan lang của Nam Việt là Đô Kê (都稽; có bản chép là Tôn Đô) bắt được Lữ Gia. Các xứ ở Nam Việt đều xin hàng. Lữ Gia và vua Triệu sau đó đều bị quân Hán giết.

Cùng nói về các trận đánh chống giặc Hán và sự hy sinh của Lữ Gia, có nhiều dị bản. Cụ thể:

Giặc Hán thấy Lữ Gia là một tướng tài, không thể dùng binh mạnh mà đánh được bèn dùng kế ly gián chia rẽ vua tôi. Vua mắc kế địch bèn gọi ngài về thành Đại La sai làm Lệnh doãn Phong Châu vì thế 7 quận và kinh thành đều rơi vào tay giặc, duy chỉ còn Phong Châu - Bạch Hạc nhờ ngài mà được yên.

Dị bản 1: Lữ Gia đem nghĩa binh và tùy tùng giữ vững miền thượng lưu Sông Lô cùng với hai phu nhân đóng doanh trại riêng tại tổng Nhân Mục. Tại đây đã diễn ra nhiều trận chiến giữa quân của Lữ Gia với giặc Hán, quân Hán đều thua trận. Thấy vậy tướng Hán ngầm giao kết với Chu Năng là bộ tướng của Lữ Gia. Chu Năng làm phản, tiến quân từ Lãng Sơn ra hợp sức với quân Hán đánh ngài ở bến Nhân Mục. Thế giặc quá mạnh, Lữ Gia phải rút về Bạch Hạc. Mấy ngày sau quân Hán vây kín bốn mặt, quân Lữ Gia tán loạn chỉ còn mình ông tả xung hữu đột chém giết được nhiều tướng giặc nhưng vì thế cô không thể đương nổi quân địch, ông ngửa mặt lên trời mà than rằng:

“Lòng vua nỡ phụ ta rồi, trời xanh có biết

Nắm xương người anh hùng không chết còn với núi sông

Đến lúc nào vua tôi mới lại được gặp nhau”

Nói xong, trời ban cho kiếm kích, ông đánh tiếp một hồi rồi tử trận. Đó là ngày 10, niên hiệu Thiên Mã thứ 2 (tức năm 111 - TCN).

Dị bản 2: Sau trận giao chiến, quân hai bên chết nằm gối đầu lên nhau, máu hoen cỏ nội. Thừa tướng bị quân Hán vây chặt chém một gươm trúng cổ. Ông quăng thanh đao về phía trước đưa hai tay đỡ đầu của mình vừa rời khỏi cổ, bọn giặc Hán sợ quá dạt ra hai bên.

Thừa tướng ôm đầu ruổi ngựa chạy đến chân núi Gôi (Vụ Bản, Nam Định), bỗng gặp một người đàn bà kêu lên: “Tướng quân không có đầu sao còn sống được”. Thừa tướng Lữ Gia chợt tỉnh bỏ rơi đầu mình ra và ngã xuống ngựa. Quân Hán đuổi tới nơi đem thi thể Thừa tướng Lữ Gia ném xuống cửa sông Nguyệt Giang. Dân làng Nguyệt Mạc vớt được thi thể của Thừa tướng đem an táng và lập đền thờ trên phần mộ của người, tôn là phúc thần.

Dị bản 3: Theo một truyền thuyết khác thì sau khi bị quân Hán chém đầu nhưng chưa đứt hẳn, Lữ Gia phóng ngựa chạy về vùng đất Vụ Bản, Nam Định. Khi chạy đến vùng đất nay là thị trấn Gôi thì gặp một bà hàng nước. Lữ Gia hỏi bà: Người bị chém mất đầu có sống được không? Bà hàng nước cười, nói: Người mất đầu thì làm sao mà sống được. Tức thì đầu Lữ Gia lìa khỏi thân. Dân vùng Vụ Bản đã mai táng và lập đền thờ ông ở nhiều nơi trong huyện. Tương truyền: đầu, thân và chân của ông được thờ ở ba làng khác nhau. Ngày xưa có hội rước tại các đình, miếu thờ ông trong khắp huyện, to gần bằng hội Phủ Dầy. Chuyện này được ghi trong “Thiên Bản lục kỳ”, là một trong 6 truyện kỳ lạ của vùng đất Thiên Bản xưa (nay là Vụ Bản).

Cũng theo truyền thuyết, khi Lữ Gia bị bắt và bị chém đầu, một con chó đã cắp đầu của ông bơi qua sông và chôn giấu. Hiện nay, đền thờ Lữ Gia vẫn còn tại thôn Yên Thiết, xã Quang Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

Trong khi loạn lạc, hai phu nhân của Lữ Gia cùng đoàn tùy tùng đi thuyền rồng ngược sông Lô tìm chồng, đến bến Thượng Nha huyện Phù Khang (Phù Ninh ngày nay) thì đỗ lại. Ngày 30 tháng Năm quân Hán vây kín bến Thượng Nha, thế giặc quá mạnh không thể giải vây được, hai bà đã gieo mình xuống dòng sông Lô tự tận.

Để tưởng nhớ Tể tướng Lữ Gia và hai phu nhân, nhân dân hai bên bờ sông đã lập miếu thờ phụng như thôn Thượng Nha, Hạ Nha huyện Phù Khang (Phù Ninh), tổng Nhân Mục, Bạch Lưu, Hải Lựu, Nhân Lạc, An Thiết (Yên Thiết, xã Quang Yên, huyện Sông Lô) và đình làng Đôn Mục.

Cảm kích trước tài năng, công trạng của Lữ Gia, vua Trần Nhân Tông đã phong ông là THƯỢNG ĐẲNG PHÚC THẦN và ban mỹ tự NGUYỄN TRIỀU LỆ ĐẠI VƯƠNG, đồng thời sắc phong cho các miếu phụng thờ ông.

Quá trình xây dựng, tu bổ, tôn tạo đình

Đình Đôn Mục được xây dựng vào khoảng năm 1751 (thế kỷ XVIII) dưới triều Lê, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 12, thời vua Lê Hiển Tông. Năm Tân Sửu, niên hiệu Thành Thái (1901) các cụ trong làng đã tu bổ ngôi đình thêm uy nghi hoành tráng, tọa lạc trên vị trí đình ngày nay. Bộ khung đình làm bằng gỗ lim, gỗ mít được chạm trổ tinh vi, khéo léo. Mái đình lợp ngói mũi hài với những đao đình cong vút. Đình còn có một bộ kiệu bát cống sơn son thiếp vàng và nhiều đồ khí tự dùng thờ cúng như: tán, lọng, mũ, ngai, v.v…

Trải qua thăng trầm của lịch sử, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đình cổ đã bị đổ nát.

Sau gần 50 năm vắng bóng, đến cuối năm 2004, làng đã tìm lại được 4 tấm bia đá cổ đưa về nền đình làng. Năm 2007, được sự nhất trí của cấp ủy Đảng, chính quyền và sự chung tay góp sức của toàn thể Nhân dân ba thôn Dân Chủ, Đôn Mục, Trung Kiên và những người con của quê hương đang làm ăn, sinh sống trên mọi miền của Tổ quốc, ngôi đình làng đã được khởi công xây dựng lại.

Ngày 25/11/2007, khôi phục lại hậu cung, rước long ngai thánh yên vị, công việc thờ cúng bắt đầu lại từ đây.

Ngày 15/01/2009 (ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Tý), khánh thành đình.

Mùa xuân năm 2010 (mùng 4 tháng Giêng năm Canh Dần), tổ chức tế lễ, rước kiệu, phục hồi lại phong tục xưa.

Ngày 05/5/2010 (tức ngày 22 tháng Ba năm Canh Dần), đón nhận bản thần tích, thần sắc, bản Xã chí xã Đôn Mục từ Viện Hán Nôm quốc gia về đình làng.

Năm 2015, đình được Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh tại Quyết định số 401/QĐ-CT ngày 11/02/2015.

Các hiện vật trong đình

Theo bản Xã chí xã Đôn Mục năm 2010, hiện nay tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu trữ một bản Xã chí của xã Đôn Mục, tổng Nhân Mục, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên (nay là thôn Đôn Mục, xã Đôn Nhân, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc), mang ký hiệu AJ1/9 do lý trưởng của xã là Nguyễn Hữu Dự kê khai vào ngày 10/01/1942.

Ở mục 1 (mục nói về văn bia), ghi: Làng này có có 5 bia 8 mặt. Đó là bia tạo vào các năm:

- Một bia tạo vào ngày 12 tháng 9 năm 1751, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 12

- Hai bia tạo vào ngày 19 tháng 12 năm 1808, niên hiệu Gia Long năm thứ 7

- Một bia tạo vào tháng 6 năm 1813, niên hiệu Gia Long năm thứ 12

- Một bia tạo vào ngày tốt, tháng tốt niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 5 (1739) triều Lê (bia này là của văn từ làng - tổng Nhân Mục).

Ở mục 2 (mục nói về thần sắc) ghi: Làng này có 5 đạo sắc, trong đó có 4 đạo sắc chính (bản gốc) và một đạo sắc sao (sắc sao lại theo bản chính). Các đạo sắc này phong cho vị bản cảnh thành hoàng liệt đại vương, gồm:

- Một đạo cấp ngày mồng Một tháng Bảy nhuận, niên hiệu Tự Đức thứ 7 (1854).

- Một đạo cấp ngày mồng Một tháng Bảy, niên hiệu Đồng Khánh năm thứ 2 (1887).

- Một đạo cấp ngày 11 tháng Tám niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 (1909).

- Một đạo cấp ngày 25 tháng Bảy, niên hiệu Khải Định năm thứ 9 (1924). Nội dung đạo sắc này đã được dịch, lưu ở bản Thần tích, Thần sắc xã Đôn Mục. Cụ thể như sau:

Phiên âm:  (豈定九年七月二十五日)

Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật

Dịch nghĩa:

Sắc ban cấp cho xã Đôn Mục tổng Nhân Mục huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Yên, trước đây dân xã phụng thờ vị thần, vốn được phong tặng là Hiền lương Dực bảo Trung hưng Hộ quốc Nguyễn Triều Liệt Đại Vương tôn thần: Ngài phù giúp nước, che chở dân, linh ứng tỏ rõ, trải các tiết được ban cấp sắc phong, chuẩn cho thờ cúng. Nay trẫm nhân lúc làm lễ mừng thọ hưởng tuổi tứ tuần, mới ban chiếu báu, mở rộng ân huệ, làm lễ đăng trật, đặc biệt cho phép phụng thờ để ghi nhớ ngày quốc khánh mà kéo dài việc thờ ngài. Vậy nay ban sắc!

- Một đạo cấp ngày mồng 10 tháng 12 niên hiệu Vĩnh Khánh năm thứ  2(1729–1732). Hiện nay, đình còn lưu giữ được 4 trong số 5 văn bia bằng đá, cùng 5 đạo sắc do Triều Nguyễn phong vào đầu thế kỷ XVIII. Tuy nhiên các bia đã bị mờ chữ, hiện chỉ còn văn bia tạo năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751) là khá nguyên vẹn.

Sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của đình Đôn Mục

Để tưởng nhớ công ơn của Tể tướng Lữ Gia, người có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, hằng năm cứ vào ngày mùng 4 tháng Giêng, nhân dân làng Mục ngày xưa và 3 thôn Dân Chủ, Đôn Mục, Trung Kiên lại tổ chức lễ hội truyền thống ôn lại sự tích, thân thế, sự nghiệp của ngài.

Một năm đình tổ chức 4 lễ gồm: Ngày sinh (mùng 1 tháng Giêng), Ngày hóa (mùng 10 tháng Năm); ngày lập hạ: (20 tháng Ba; 15 tháng 7).

Giá trị lịch sử, văn hóa của di tích

Đình Đôn Mục là công trình tín ngưỡng, tâm linh của cộng đồng dân cư làng Mục khi xưa, này là thôn Đôn Mục, xã Đôn Nhân, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Đình thờ Tể tướng Lữ Gia - Nguyễn Triều Lệ Đại Vương - người đã có công giúp vua Triệu chống giặc phương Bắc, bảo vệ bờ cõi, được Nhân dân nhớ ơn, lập đình phụng thờ. Trong tâm thức người Việt, xa xưa, đình làng là nơi họp bàn việc nước, việc làng; cũng là nơi sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Hình ảnh đình làng luôn gắn liền với hình ảnh cây đa, giếng nước… - những hình ảnh truyền thống lâu đời, thân thương, gần gũi của làng Việt, góp tạo nên bản sắc văn hóa Việt riêng có, độc đáo, đặc sắc.

Ngày nay đình làng Việt nói chung, đình làng Đôn Mục nói riêng vẫn luôn là trung tâm văn hóa của cộng đồng Nhân dân địa phương, là nơi thờ tự các bậc phúc thần, thành hoàng làng, điểm văn hóa tâm linh thiêng liêng, cầu cho quốc thái dân an, người người hạnh phúc của Nhân dân trong vùng, cũng là nơi giáo dục truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tôn vinh những công lao, đóng góp của các bậc tiền nhân.

BBT

Ngày đăng: 18/01/2021