Dành cho du khách

 
Dành cho du Khách

Đền Yên Thiết

Quang Yên là xã miền núi nằm về phía Tây Bắc huyện Sông Lô, với chiều dài 7 km theo hướng tỉnh lộ chạy qua. Phía Bắc, Quang Yên giáp ba xã của tỉnh Tuyên Quang, gồm Phú Lương, Tam Đa, Lâm Xuyên; phía Nam, Quang Yên giáp xã Lãng Công (huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc); phía Tây giáp hai xã Hải Lựu và Bạch Lưu (huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc).

Là một xã lớn của huyện Sông Lô, Quang Yên có 17 đơn vị hành chính cấp thôn: Đồng Dạ, Gò Chùa, Yên Thiết, Làng Đồng, Đức Thịnh, Đồng Nùng, Đồng Chùa, Lý Nhân, Đồng Dong, Đá Đen, Đồng Chằm, Xóm Mới, Đồng Găng, Quang Viễn, Đồng Tâm, Đá Bụt, Đá Đứng. Toàn xã có tổng diện tích tự nhiên 1.779 ha, trong đó có 306,7 ha đất nông nghiệp, còn lại là núi đá và đồi, gò. Là vùng bán sơn địa, Quang Yên có địa hình là một thung lũng hẹp nằm giữa ba ngọn núi Sáng Sơn, Thiết Sơn (hay còn gọi núi Thét) và núi Bồ Thân. Dân số toàn xã là 8.432 người, trong đó đồng bào dân tộc Cao Lan có 368 hộ với 1.730 người, dân tộc Dao có 27 người, còn lại là người Kinh cùng chung sống.

Là một địa danh cổ, trước khi thuộc địa giới xã Quang Yên ngày nay, trải qua các thời kỳ lịch sử, làng/thôn Yên Thiết (là một trong 17 đơn vị hành chính cấp thôn thuộc xã Quang Yên) đã có nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính. Cụ thể:

- Thời Văn Lang - Âu Lạc, đất đai Yên Thiết thuộc bộ Văn Lang;

- Thời đầu Công nguyên, Yên Thiết thuộc huyện Mê Linh, quận Giao Chỉ;

- Từ thế kỷ III đến thế kỷ V, thuộc huyện Mê Linh, quận Tân Xương;

- Trước năm 1945, xã Quang Yên gồm hai làng Quang Viễn và Yên Thiết. Do chia tách về đơn vị hành chính, làng Yên Thiết được chia tách thành các thôn nhỏ gồm: Yên Thiết, Gò Chùa, Đồng Dạ, Đức Thịnh, Đồng Dong, Làng Đồng, Đồng Chùa, Lý Nhân và Đồng Nùng, trong đó thôn Gò Chùa là nơi tọa lạc của đền Yên Thiết.

Trong tòa thượng cung của ngôi Đền có đặt cỗ long ngai vị thờ. Dòng thánh tâm bài vị ghi hàng chữ “Thiết Sơn Cao Duệ, Chiên hưu, Hiển hóa, Hồng trạch, Phu lưu, Tập cát Đại vương Thần vị”. Đó là vị thần có duệ hiệu Cao Duệ ở Thiết Sơn, tức núi Thét. Theo văn bản 12480 lưu trữ tại Viện Thông tin Khoa học-Xã hội Hà Nội thì Cao Duệ là một vị “nhân thần”, sinh ngày mùng Một tháng Hai (không rõ năm), mất ngày mùng 10 tháng Năm năm Canh Ngọ (năm 111 trước Công nguyên), đó là vị Đại La thành Phù Ký Lang Hà thượng sĩ đại phu, tên là Lữ Gia (? - 111).

Theo sách Sử ký của Tư Mã Thiên thì Lữ Gia là Thừa tướng đời vua Ai Vương nhà Triệu của nước Nam Việt do Triệu Đà sáng lập năm 207 trước Công nguyên (TCN). Ông là một trong số các đại thần triều nhà Triệu chống lại âm mưu nhà Hán muốn thôn tính nước Nam Việt thời Ai Vương (năm 112 TCN) do thái hậu Cù Thị là người Hán chủ trương. Về việc này, Sử ký chép: “Mẫu hậu (Cù thị) ngang nhiên dâm loạn, quyền thần chuyên chính, vua hèn tuổi trẻ…” (Đại Việt Sử ký toàn thư, bản khắc in năm Chính Hòa thứ 18 - 1697, bản dịch tập 01 Nhà xuất bản Khoa học-Xã hội Hà Nội năm 1993, trang 150).

Về Lữ Gia, ông là người Việt, theo văn bản bia đền Cả xã Liễn Sơn huyện Lập Thạch có tên bia “Việt Thường thị Đại La thành Phù Kí Lang Hà thượng sĩ đại phu” thì Lữ Gia quê ở huyện Lôi Dương, phủ Nghệ An, bộ Cửu Chân. Cha là ông Lữ Tạo và mẹ là bà Trịnh Thị Ninh. Khi lớn lên, ông được cha mẹ đặt tên là Lệ. Vì vậy các đạo sắc phong nhà Nguyễn về sau ghi là “Nguyễn Triêu Lệ”.

Ông ra làm quan với triều đình nhà Triệu ở thời vua Triệu Minh Vương (124 - 112 TCN). Đến thời vua Triệu Ai Vương thì đã tới chức thừa tướng. Theo “Toàn thư” của Ngô Sĩ Liên (1400 - 1499), trang 151, chép: “…Bấy giờ Lữ Gia tuổi đã nhiều, làm tướng trải ba triều, người trong họ (Lữ) làm trường lại đến 70 người, con trai đều lấy con gái vua, con gái đều gả cho con em vua và người tôn thất, cùng thông gia với Tần Vương ở quận Thương Ngô, trong nước rất được lòng dân hơn cả vua”. Khi nhà Hán cất quân sang đánh nước Nam Việt, thủ đô Phiên Ngung thất thủ, Lữ Gia đem tướng sĩ của mình rút về Âu Lạc là địa phận phía Nam nước Nam Việt, (thuộc địa bàn từ miền Trung trở ra Bắc) đóng bản doanh ở Đại La (Hà Nội ngày nay).

Để củng cố lực lượng chống giặc, ông cùng hai bà vợ và các nô tì lui về lập căn cứ ở các nơi như: Quảng Khuôn, Thản Sơn (xã Liễn Sơn ngày nay); Liên Hồ (xã Thái Hòa); Ngọc Liễn (xã Liên Hòa), đều thuộc huyện Lập Thạch ngày nay. Ở huyện Sông Lô có căn cứ Đôn Mục, Nhân Mục (xã Đôn Nhân); Đạo Nội, Nhân Lạc (xã Nhân Đạo); Lãng Sơn (xã Lãng Công); Phương Ngạc, Khoan Bộ (xã Phương Khoan); Bạch Lưu Hạ, Bạch Lưu Thượng (xã Bạch Lưu); Hải Lựu (xã Hải Lựu); cùng các làng Yên Thiết, Quang Viễn (xã Quang Yên) dưới chân núi Thét. Ngày nay tại vùng chân núi Thét thuộc địa phận làng Yên Thiết vẫn còn ba dấu tích để lại khi ông về đây, gồm:

Một là Gò Đồng: Là quả gò nhỏ, tọa lạc ở phía Tây Nam ngôi Đền. Tương truyền là nơi ông tích trữ lương thảo. Vì vậy mà lưu danh là “Gò Đồn”.

Hai là Hòn Đá Dài, nằm xế về bên phải ngôi Đền là nơi Lữ Gia thường ngồi nghỉ những lúc thư nhàn. Nay vẫn còn lưu nhiều vết tích của dấu người ngồi.

Ba là Long Động: là một hang đá trên đỉnh núi Thét (Thiết Sơn). Bia xã Liễn Sơn chép: “Nước Việt đã mất, ngài (Lữ Gia) mưu tính việc khôi phục, đem theo nghĩa binh vài mươi người dựa vào hai bờ thượng lưu sông Lô đặt doanh trại cố thủ, dựa vào sự hiểm trở của núi Long Động (tức núi Thét, làng Yên Thiết xã Quang Yên, huyện Sông Lô ngay nay), bí mật lẻn ra đánh tập kích quân Hán. Quân Hán mấy lần bị thua phải trở về kinh thành”.

Vậy là, chỉ trong một địa bàn hẹp ở phía Bắc chân núi Thét (làng Yên Thiết) bằng những dấu tích vật chất còn được lưu lại đến ngày nay đã minh chứng rằng nơi đây (núi Thét, làng Yên Thiết) là một căn cứ chống giặc Hán xâm lược ở giai đoạn sau của quân dân ta. Dưới sự chỉ huy của Lữ Gia, nghĩa quân đã xây dựng được một hậu phương khá rộng lớn (thuộc địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay) làm căn cứ kháng chiến trong năm 111 TCN, mà trung tâm là vùng núi Thét xã Quang Yên. Thêm vào đó, các làng như Thanh Vân, Đạo Tú (huyện Tam Dương); Thản Sơn (xã Liễn Sơn) và Thạch Trụ (xã Bàn Giản) thuộc huyện Lập Thạch ngày nay đều là những nơi có nhiều quặng sắt. Lữ Gia đã cho quân sĩ khai thác, dựng lò luyện sắt rèn vũ khí. Đến ngày nay, những lò nung, ống bễ của một thời cha ông ta rèn vũ khí, đánh giặc giữ nước tự thủa xa xưa vẫn còn dấu tích; bên cạnh các vỉa quặng sắt còn có rất nhiều rỉ sắt và những mảnh vỡ của ba lò ống bễ với số lượng rất lớn.

Cuộc kháng chiến chống quân Hán của Lữ Gia kết thúc vào mùa đông năm Canh Ngọ hiệu Nguyên Đỉnh thứ 6 (năm 111 trước Công nguyên) đời vua Hán Võ Đế.

Lịch sử hành trạng của Tể tướng Lữ Gia được ghi lại như sau: Vào thời vua Hán Vũ Đế (156 - 87 TCN, Trung Quốc), ở phủ Nghệ An thuộc huyện Lôi Lăng (hay Lôi Dương) của quận Cửu Chân có gia đình ông họ Lữ (hoặc Lã, từ đây về sau gọi là Lữ), tên là Công Tạo rất giỏi nghề y, vợ là Trương Thị Thường. Hai ông bà sinh hạ được bảy người con, người nào cũng giỏi phi ngựa, múa kiếm, nhưng ông bà vẫn cho là thưa thỏa. Một hôm, ông Lữ bảo với vợ rằng: Nhà chúng ta đời nối đời, làm việc thiện ắt sẽ gặp điều lành, nay xem ra các con ta chưa phải là người nối dõi xứng đáng, tôi muốn đi cầu đảo một phen, may ra thì thỏa nguyện một đời. Sau đó, hai ông bà bảo nhau sắm sửa lễ vật vào chùa ở núi Thiên Kiệu cầu đảo.

Đêm hôm đó khi ông bà ngủ lại tại chùa thì bỗng mộng thấy một màu vàng rực bao trùm khắp không gian quanh chùa, rồi chợt thấy hình ảnh như có muôn loài rồng, cá uốn lượn bơi đến, trong mờ ảo lại hóa thành một đôi chim sẻ, một con sà xuống tay bà Trương, liền đem về nuôi. Đến đây thì tỉnh mộng, ông bà đều cho đó là điềm lành. Quả nhiên, từ đó bà Trương có mang, đến 13 tháng sau thì sinh được một con trai tướng mạo khôi ngô khác thường. Người con này một tuổi thì biết nói, lên năm tuổi đã hiểu luật thi phú văn chương. Ông bà họ Lữ yêu quý rất mực liền đặt tên con là Lữ Gia, tục gọi là Lữ Lệ. Năm Lữ Gia lên tám tuổi được bố mẹ cho đi học ở trường của thầy Đặng Khoa (Dương Như Tồn) cùng ở phủ Nghệ An. Thầy thường khen nhà ông Lữ thật có phúc lớn, sinh được người con trai văn, võ toàn tài vậy tất sau này sẽ làm rạng rỡ gia thế.

Năm Lữ Gia mười hai tuổi càng tỏ rõ tài năng, tất cả các sách sử đều thông thuộc, cung nỏ thiện xạ, võ thuật ít ai bì, lại thích đọc binh pháp như Binh Phù Thái công. Mỗi khi Lữ Gia ngồi nói chuyện với bạn bè đều tỏ ra hiểu biết rất sâu rộng, được bạn bè kính phục, khen rằng: Anh hùng ở đời phải được như Lữ Gia, các danh tướng dựng công, lập danh nếu không phải ở chiến trường lấy da ngựa bọc thây mà thỏa chí làm trai, sao có thể theo đòi nghiên bút mãi được.

Năm Lữ Gia mười lăm tuổi, bố mẹ đều qua đời, cảnh nhà thanh đạm lại thêm trống vắng. Lữ Gia bèn chuyển đến ở với người cậu tên là Trương Công Đàm để tiện việc học hành. Được ba năm yên lành thì Trương Công Đàm bị trưởng bộ Võ Ninh là Đào Trịnh Hoan giết hại. Lữ Gia muốn báo thù cho cậu nhưng sức chưa đủ nên phải chuyển đến vùng Ô Lý thuộc Lâm Ấp. Ở đây Lữ Gia nương náu ở chùa Hoàng Long, được vị trụ trì là Huyền Công thiền sư bảo bọc. Lữ Gia ngày đêm nung nấu, mưu tính việc báo thù cho cậu. Ông thu nạp được hơn một trăm nghĩa binh, hiền sĩ, lại chuẩn bị vũ khí chỉnh tề đi tìm Đào Trịnh Hoan. Vừa lúc gặp Đào Trịnh Hoan từ trên núi xuống, quyết chiến một trận toàn thắng trở về. Qua nhà cậu Trương Công Đàm làm lễ tế thật chu đáo xong trở lại Ô Lý.

Lúc bấy giờ ở Ô Lý có bộ trưởng họ Hùng, Người này trước kia bị nhà Tần đánh nên chạy đến nơi đây mà xưng là Thủy Hòa Vương. Nhà họ Hùng sinh được hai người con gái là Nương Lâu Bảo Hoa và Nương Lâu Nhĩ Bảo Hoa nhan sắc xinh đẹp lại giỏi cưỡi ngựa, bắn cung, có ba người thị nữ theo hầu thân cận như chị em là Ngọc Nương, Quý Nương, Thúy Nương cũng xinh đẹp và giỏi võ nghệ, các nàng đều đã đến tuổi cập kê nhưng vẫn chưa ai chịu lấy chồng. Lại nói có Lữ Gia ở vùng này được tiếng lành đồn xa nên ai ai cũng yêu mến kính phục. Bộ trưởng họ Hùng biết tin liền sai người mời Lữ Gia đến nhà chơi và làm tiệc khoản đãi hết sức trọng thể. Qua tướng mạo và khẩu khí của Lữ Gia, bộ trưởng họ Hùng nghĩ: người này có khí chất anh hùng, có tài sánh với những bậc danh tướng thời xưa, bèn nảy ý định kén làm rể, liền nói với Lữ Gia. Lữ Gia đồng ý, liền theo sự sắp đặt của bộ trưởng họ Hùng. Năm ấy ông hai mươi tám tuổi, lấy hai người con gái là Bảo Hoa và Nhĩ Bảo Hoa của nhà họ Hùng làm vợ.

Nửa năm sau, tình nghĩa vợ chồng càng nồng thắm nhưng ông Lữ vẫn không nguôi được nỗi nhớ nhà, nhớ quê. Ông bày tỏ nỗi niềm của mình với bộ trưởng họ Hùng, được họ Hùng khen là người con có chí hiếu, sau đó cho mười chiếc thuyền đưa về. Vợ chồng ông tạm biệt lên đường, đến quê hương thì thăm viếng mộ phần cha mẹ, tế lễ tại từ đường, thăm hỏi họ hàng rất chu đáo.

Hai năm sau, khi Triệu Vũ Đế băng hà, Triệu Văn Vương lên nối nghiệp cha cầm quyền trông coi việc nước, ra lệnh cho các châu các quận cử người có tài, đức, hiếu, hiền, lương, phương, chính và những người có học vấn uyên bác toàn tài ra phò vua giúp nước. Bộ Cửu Chân liền tiến cử ông Lữ Gia ở Nghệ An. Ông được gặp nhà vua và tỏ rõ tài năng, vua phong cho ông làm Đại vương Đô tướng chí tả trục đạo tổng tham quan, chịu trách nhiệm huấn luyện đội thủy quân - thuyền rồng.

Sáu năm sau, Văn Vương lại phong ông làm Tể tướng cùng vua trông coi việc nước. Đến đời vua Minh Vương nối ngôi Văn Vương ông vẫn được trọng dụng. Minh Vương ban cho ông được vĩnh viễn hưởng lộc nước, anh em họ hàng tất thảy hơn bốn mươi người đều được hưởng phú quý. Đến đời vua Ai Vương nối ngôi, Ai Vương kém đức, kém tài nhưng ông vẫn một lòng ưu ái, trung thành.

Một ngày nọ khi nhà vua ngự ở điện Thái Hòa, bỗng có một đám mây đen giống hình một con chó từ phía Tây Bắc bay tới. Vua hỏi quần thần không ai nói gì, chỉ mình ông Lữ tâu rằng ấy là điểm gở, biến cố không tự dưng sinh ra, nay nhà Hán đang ở phương Bắc đang tìm cách gây sự với bốn bên láng giềng, ắt có ý muốn xâm lăng các nước, nước Việt ta nên chú trọng việc quân, tăng cường biên phòng mà gìn giữ mới được. Bọn Ngô Quyền, Lý Ước liền can: Nước ta và nhà Hán xa xôi cách trở không tiện việc binh mã, lại có núi Ngũ Lĩnh hiểm trở, quân Hán ắt không dám đến. Vua nghe theo nịnh thần sàm tấu, tiếp tục vui thú ăn chơi ngày đêm không kể gì đến việc nước. Lữ Gia tìm cách can ngăn bao lần đều không được.

Lại nói bấy giờ, Hán Vũ Đế từ lâu muốn xâm chiếm nước ta mà chưa có cơ hội, nay nghe tin Ai Vương ham mê tửu sắc, bỏ mặc việc nước, triều đình mục nát rối loạn, liền phong cho Lộ Bác Đức làm Phục Ba tướng quân, Dương Trung là Lâu Thuyền tướng quân, đem hai mươi vạn binh mã chia làm hai đường thủy bộ thẳng hướng Nam tiến đánh. Quan lại vùng biên ải cấp báo về triều đình, một ngày đến năm lượt, vua tôi cuống cuồng hoảng sợ, bèn cử ông Lữ Gia dẫn mười lăm vạn quân đến cửa ải Côn Lôn theo sông Minh Giang đi về phía Đông thì gặp quân Hán ở Quế Lâm liền lập trại thủy, bộ để đối phó.

Lữ Gia ra trận liền lớn tiếng mắng quân giặc: “Hai nước Hán - Việt từ trước đến nay chung sống hòa bình. Nay bọn bay dẫn quân xâm lược nước ta, làm trái đạo trời, ắt tự chuốc diệt vong mà thôi”. Quân ta và quân giặc lập trại ở bai bên sông Minh Giang. Lữ Gia sai tướng Lữ Đạt và Lữ Tuân đem quân đi vòng, đánh úp quân Hán, quân Hán thất thế phải rút lui về náu dựa vào vùng hồ Động Đình mà ém quân, không dám tiến đánh. Lữ Gia lại chỉ định anh mình là Lữ Điền đón đánh Lộ Bác Đức ở cửa biển Thần Phù, thắng liền mấy trận ở Tiền Châu. Lộ Bác Đức biết không địch nổi tài trí của Lữ Gia bèn bàn với các tướng lĩnh rằng: Tướng Lữ Gia dùng binh như thần, nay không thể lấy sức mà đánh được, chỉ còn cách dùng mưu mẹo mà thôi. Bèn sai người mang một trăm cân vàng đến hối lộ bọn nịnh thần Ngô Quyền - Lý Ước, sai tung tin đồn ông Lữ Gia thông đồng cùng quân Hán phản bội đất nước, tình thế rất nguy cấp. Nhà vua nghe tin liền lập tức gọi Lữ Gia về thành Đại La rồi giáng chức xuống làm quan huyện Phong Châu.

Lữ Gia nghe lệnh vua về Phong Châu nhận chức. Ngay sau đó, quân Hán đánh xuống kinh thành, có bọn nịnh thần tiếp ứng, chẳng mấy chốc mà kinh thành đều rơi vào tay giặc. Duy có thành Phong Châu là nhờ Lữ Gia mà được an toàn. Ông chiêu mộ được hơn một nghìn quân địa phương, cùng hai vị phu nhân chia nhau trấn giữ vùng thượng lưu sông Lô, lại dựa vào thế núi đồi hiểm trở mà đánh úp các doanh trại của quân Hán. Lộ Bác Đức sai người móc nối với Chu Năng, một bộ trưởng dưới quyền Lữ Gia, dụ làm phản và hứa sẽ ban cho tước lộc. Chu Năng nhận lời theo lệnh tạo phản từ phía Sáng Sơn tập kích quân của Lữ Gia đang lập trận đánh quân Hán ở bến Nhân Mục bên bờ sông Lô. Bị đánh úp, Lữ Gia buộc phải lui quân về vùng Bạch Hạc, tới đây thì bị quân Hán bao vây đánh vào từ bốn phía, tiến lui không xong, quân lính tan tác hết, Lữ Gia một mình một ngựa tả xung hữu đột, đánh hơn chục hiệp, giết được khoảng hơn năm mươi tên giặc thì quân Hán lại kéo đến ngày càng đông. Lượng sức không địch nổi số đông quân giặc, ông định mở đường máu rút về phía Nam nhưng không thoát, ông ngửa mặt mà than trời. Than xong thì trời đất tối sầm lại, đao kiếm từ bốn phía lao tới mình ông, ông bị tướng Hán chém một nhát, đầu lìa khỏi cổ. Con ngựa chiến của ông lồng lên, mang thân xác ông tháo vòng vây chạy thoát về tới thôn Lữ Chỉ, huyện Thiên Bản thì gặp một bà lão, liền hỏi: “Xưa nay không đầu có sống được không?”. Bà cụ đáp rằng: “Người ta sống được nhờ có đầy đủ thân thể, chưa nghe ai nói không đầu mà sống được cả”. Bà cụ vừa nói dứt lời thì con ngựa rống lên một tiếng to, thân người trên đầu ngựa gầm than: “Nhất thời buộc gói thân anh hùng, muôn đời để lại lòng căm hờn giặc Hán”, xong ngã vật xuống đất. Khi Nhân dân trong làng, xã tới thì mối đã đùn lên thành một đống rất to. Chỗ ấy sau này được dựng thành miếu thờ. Nhân dân các huyện, các tổng nơi xảy ra chiến địa, chỗ nào có máu Lữ Gia chảy xuống đều cũng lập đền miếu thờ cúng. Người đời sau có thơ rằng:

Sống làm danh tướng chết làm thần

Muôn thuở tiếng thơm ngày mới hơn

Sông thu một nấm trăng soi bóng

Mộ Lữ công đây gửi chốn nằm

Còn khi Lữ Gia bị chém, con chó ngao thân thiết vẫn theo ông ra trận liền nhảy lên ngoạm lấy cái đầu rồi chạy thẳng về núi Yên Thiết, đến đây thì sơn thần hiện lên đem đi mai táng tại phía Nam của núi. Nhân dân Yên Thiết - Quang Viễn (tức Quang Yên ngày nay) lập miếu thờ (nay là đền Yên Thiết).

Về hai vị phu nhân cùng các thị nữ, sau khi đánh thêm mấy trận với quân Hán cũng tự vẫn mà chết theo chồng. Nhân dân các làng xã hai bên sông và các vùng lân cận nơi ông bà lập trại, tuyển quân, đánh Hán đều lập đền miếu thờ phụng. Riêng ở Yên Thiết và Quang Viễn sau này lập đình thờ và tôn ông Lữ Gia làm thành hoàng, lấy ngày mùng Bốn tháng Năm âm lịch hằng năm mà cúng lễ.

Đời sau có thơ rằng:

Sống làm trung tướng chết làm thần

Vạn cổ cương thường truyền bất hủ

Chồng, vợ một lòng cùng biết  nghĩa

Lưu truyền đình, miếu hai bên sông

Đến đời vua Trần Nhân Tông, quân Nguyên xâm lược nước ta. Thái sư Tiết chế Trần Hưng Đạo thống lĩnh chư quân đã cầu bách thần giúp nước, ngài Lữ Gia đã hiển linh giúp nhà Trần dẹp giặc. Xong xuôi ngài hóa thành con hổ đen bay lên không trung và biến mất. Vua Trần nhớ ơn đã phong cho ngài là “Thượng đẳng phúc thần” ở các đền, miếu trong vùng (trong đó có đền Yên Thiết), Nhân dân theo đó mà thờ cúng. Các vua đời sau cũng nối tiếp tôn thần, gia phong mỹ tự, cho được thờ cúng trường tồn cùng đất nước, hương hỏa đời đời không dứt.

Đền Am khởi thủy là ngôi miếu nhỏ (am), là một kiến trúc đơn sơ để che ngôi mộ “thủ cấp” Tể tướng Lữ Gia mà theo truyền thuyết do con chó ngao cắp chạy về đến đây rồi được vị sơn thần núi Thét bới đất mai táng. Trải qua nhiều năm tháng, gió mưa, ngôi am nhỏ này dần mai một, mãi đến năm Minh Mệnh thứ hai Triều Nguyễn (1821), mới có lạc khoản ghi lại niên đại xây dựng ngôi đền. Nguyên thư hàng chữ trên câu đầu hàng cột ngoài giáp tiền tế như sau: Minh Mệnh nhị niên, thập nguyệt, Đinh Mùi, Mão thời giám trụ thượng lương đại cát vượng. Nghĩa là: Giờ Mão (từ 5 - 7h GMT) ngày Đinh Mùi (ngày 30), tháng 10, niên hiệu Minh Mệnh năm thứ hai (1821) đời vua Nguyễn Thánh tổ Phúc Đảm triều Nguyễn*.

Đền Yên Thiết là lăng từ của Tể tướng Lữ Gia. Hàng năm, Nhân dân tổ chức các lễ hội để tưởng nhớ ông - vị phúc thần có công lao to lớn với dân, nước. Các lễ hội gồm:

- Ngày 8 tháng Giêng âm lịch: Lễ hội Khai xuân, tổ chức tế, rước và các trò chơi dân gian;

- Ngày 1 tháng Hai âm lịch: Kỷ niệm ngày sinh thánh;

- Ngày 10 tháng Năm âm lịch  Kỷ niệm ngày thánh hóa;

- Ngày 6 tháng Chạp âm lịch: Tất niên.

Trong đó, ngày trước, lễ hội tháng Giêng được dân làng Yên Thiết tổ chức với quy mô lớn nhất trong năm. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày, từ mùng 7 đến mùng 9 tháng Giêng. Địa điểm tổ chức tại đền và đình Yên Thiết, bao gồm các phần việc chính như sau:

- Tế lễ: Ngày 7 tháng Giêng, làng tổ chức cáo tế; ngày mùng 8 tháng Giêng tế chính; ngày mùng 9 tháng Giêng tế tạ.

Đội hình tế lễ gồm 12 người. Chủ tế mặc phục trang màu đỏ, quan viên tế phục trang màu xanh. Khi tế có nhạc của phường bát âm.

- Lễ rước: Lễ rước được tổ chức vào ngày mùng 8 tháng Giêng. Hành trình đám rước đi từ đình Yên Thiết đến đền Yên Thiết; thỉnh đức thánh về đình để tổ chức lễ hội. Đội hình đoàn rước gồm nhiều thành phần, đi theo trật tự như sau: Đội cờ, phường bát âm, chấp kích, kiệu thánh, quan viên tế và Nhân dân trong thôn.

- Lễ vật dâng thánh gồm thủ lợn, xôi, hoa quả.

- Trò chơi dân gian: Chọi gà, đánh vật, đánh cờ bỏi (thẻ cờ).

Ngày trước, khi làng Yên Thiết tổ chức lễ hội thì các làng lân cận gồm: Bạch Lưu Thượng (xã Bạch Lưu); Bạch Lưu Hạ, Hải Lựu (xã Hải Lựu); Quang Viễn (xã Quang Yên) đều mang lễ đến đền Yên Thiết để trình thánh xin phép được mở hội làng.

Về di tích

Hiện nay, ngôi đền Yên Thiết có kiến trúc tổng thể hình chữ “Đinh” (丁), gồm hai phần: Hậu cung và tiền tế.

Hậu cung hiện còn hai gian chạy dọc. Gian trong có thượng cung lát ván sàn, bên trên đặt cỗ long ngai, bài vị Tể tướng Lữ Gia, cùng một số đồ thờ, tự khí, như bát hương (gốm Thổ Hà), đài nước, đài rượu, ống đựng sắc phong.

Tiền tế (đại đình) ngày nay chỉ còn lại dấu tích. Theo quan sát thực địa thì phần này có ba gian, làm bằng đất, phía trước hậu cung. Hiện vẫn còn một số hòn đá tảng tự nhiên vừa cỡ chân cột trước đền. Trong đền hiện còn lưu giữ được một số hiện vật là chứng tích của các đồ thờ chưa bị hủy như cán lỗ bộ là tự khí bài trí ở gian tiền tế.

Về hiện vật

Bao gồm hai loại: Cổ vật và hiện vật mới

Cổ vật: Gồm một ngai thờ, cao 150cm, phần đế có kích thước 70cm x 50cm. Ngai được chạm khắc, trang trí công phu, tỉ mỉ, mang phong cách nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian thời nhà Nguyễn (1802 - 1945); phần tay ngai được chạm hình rồng với dáng vẻ uy nghi; bốn phía của đế ngai được chia thành các ô chạm khắc hình rồng, hoa lá cách điệu, được sơn thếp cẩn thận. Mục dục của ngai có ghi thần hiệu của vị thần được thờ bằng chữ Hán. Tiếp đến là ba mâm bồng (hai mâm cao 40cm, đường kính miệng 60cm; một mâm cao 40cm, đường kính 50cm); một mâm xà dài 75cm, rộng 60cm; một cây đèn gỗ, cao 50cm; hai cây nến, cao 40cm; 08 đài nước (05 đài cao 20cm, 03 đài cao 25cm); ba ống hương cao 30cm; hai thanh kiếm, dài 135cm.

Hiện vật mới gồm một bát hương (gốm sứ) cao 20cm, đường kính 25cm; hai mâm bồng, cao 20cm, đường kính 30cm.

Đền Yên Thiết thờ Tể tướng Lữ Gia. Đền có quy mô, kiến trúc nhỏ nhưng được bố cục hài hòa, luôn toát vẻ uy nghiêm, thanh tĩnh. Đây là nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, góp phần giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, ghi nhớ công ơn các bậc tiên liệt có công lao to lớn với dân, nước của Nhân dân địa phương từ nhiều đời nay.

BBT

Ngày đăng: 18/01/2021