Dành cho du khách

 
Dành cho du Khách

Đình Nhân Lạc

Đình Nhân Lạc tọa lạc ở trung tâm làng Nhân Lạc, xã Nhân Đạo, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc trên một thế đất đẹp, bằng phẳng, cao ráo, thoáng đãng. Đình nhìn theo hướng Tây Nam, trong khuôn viên có diện tích 1.132m2, phía trước là ao hồ rộng mênh mông, ba bề là xóm làng dân cư bao bọc, cây cối quanh năm xanh tươi.

Đình Nhân Lạc thờ Tể tướng Lữ Gia (190 TCN - 111 TCN) tên hiệu là Bảo Công, người có công phò giúp vua Triệu trong cuộc kháng chiến chống Tây Hán xâm lăng do tướng Lộ Bác Đức cầm đầu vào năm 111 trước Công nguyên (TCN) và Quý Minh - một tướng tài của vua Hùng Vương thứ XVIII.

Nhân vật Lữ Gia

Theo ngọc phả được lưu giữ tại đình Nhân Lạc, bản kiểm kê di tích xã Nhân Lạc, tổng Nhân Mục được lưu giữ tại Viện nghiện cứu Hán Nôm mang kí hiệu AJ 1/9 và tư liệu lịch sử của địa phương, có thể tóm lược lịch sử và hành trạng của Lữ Gia như sau:

Xưa nước Việt ta gây dựng cơ đồ ở phía Nam, trải qua 18 đời Hùng Vương thịnh trị bèn trao lại mệnh trời cho Thục Phán An Dương Vương. Vua Thục vì có nỏ thần nên coi thường ngoại xâm, bởi vậy mà đất nước về tay nhà Triệu (Triệu Đà).

Vào đời vua Triệu Minh Vương (cháu của Triệu Đà, con của Triệu Văn Vương) đóng đô ở thành Đại La, lấy đức dạy Nhân dân nên được binh mạnh, nước giàu, tiếng tăm lừng lẫy có thể sánh ngang với vua Vũ Đế nhà Hán (Hán Vũ Đế).

Khi ấy ở bộ Cửu Chân, huyện Lôi Dương, phủ Nghĩa An (có tài liệu nói là phủ Nghệ An) có nhà họ Lữ, tên Tạo, vợ là con gái nhà họ Trương tên là Châu (có tài liệu nói tên là Thường hoặc Trương Thị Ninh) người bộ Vũ Ninh (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) có nghề làm thuốc chữa bệnh cứu người. Ông bà ăn ở hiền lành, chuyên tu tâm tích đức, sinh được 7 người con nhưng đều mất sớm. Đến năm ông 51 tuổi mới than thở với bà rằng: “Nhà ta nối đời âm thầm làm việc thiện về sau tất được hậu báo...”. Bèn ra sức đến cầu đảo ở các đền, mong có điềm lành báo ứng an ủi lòng mong mỏi lúc bình sinh. Rồi hai ông bà cùng rời về núi Thiên Kiện, huyện Kim Bảng. Một đêm bà Trương nằm mơ thấy có ánh hào quang đỏ rực đầy nhà, rồi thấy có rồng vàng ngoằn ngoèo bò tới và bỗng hóa thành một đôi chim sẻ, bà bắt được một con đem về. Tỉnh dậy biết mộng báo điềm lành. Từ đó bà có thai, đến ngày 1 tháng 12 năm Tân Hợi, sinh hạ được một người con trai, mặt mũi khôi ngô tuấn tú, tư chất thông minh lạ thường, đầy tuổi đã biết nói, lên 5 tuổi đã thông hiểu âm luật. Cha mẹ vô cùng yêu quý, mới đặt tên là Gia, lớn lên lại đặt tên là Lệ. Khi lớn được theo học tại trường của Dương tiên sinh, tên húy là Như Tồn tại gò Khổng Tước phủ Nghĩa An. Năm 12 tuổi, Lữ Lệ văn võ song toàn, tinh thông binh pháp, không điều gì không thấu hiểu nên người người đều kính nể.

Năm Lữ Lệ 15 tuổi, cha mẹ đều qua đời, Lệ vô cùng thương xót, lo tang ma chu toàn cho cha mẹ. Được tròn 3 năm, cậu của Lệ làm Bộ trưởng Vũ Ninh bị Đào Trịnh Hoan mưu sát. Lệ muốn báo thù nhưng hiềm sức còn mỏng nên đến đất Ô Lý ở Lâm Ấp nương nhờ vị thiền sư chùa Hoàng Long hiệu là Huyền Tông, đêm ngày mưu tính việc báo thù cho người cậu. Lệ tự chiêu mộ được vài trăm nghĩa binh, dùng thuyền từ Linh Sơn tiến xuống cửa sông Bạch Đằng, vừa đến khe núi Chung Sơn thì gặp bọn Đào Trịnh, Lệ hăng hái giục quân tiến đánh, giết hết bọn chúng rồi trở về Lâm Ấp. Khi ấy, có nhà họ Hùng làm bộ trưởng đất ấy, có hai người con gái tên là Lâu Bảo Hoa và Nhĩ Bảo Hoa đều xinh đẹp lạ thường, có tài cưỡi ngựa bắn cung. Hùng công thấy tài đức của Lữ Lệ bèn gả cả hai nàng cho Lệ.

Nửa năm sau, Lệ xin phép Hùng công đưa vợ trở về quê hương, bái yết từ đường, thăm viếng phần mộ tổ tiên tỏ lòng hiếu lễ, tình nghĩa họ hàng nơi nào cũng trọn vẹn. Sau đó, Lữ Lệ đi thi ở trường Nghĩa An quận Cửu Chân, đỗ đầu, đươc phong làm Thị tòng Tham quan, chuyên lo việc chính sự, nghi thức triều đình, kiêm lĩnh chức “Đốc lĩnh thủy đạo long chu tả súy Đô thống chế đại vương”. Sáu năm sau, ông được phong tể tướng, cùng với Triệu Minh Vương, vua tôi hợp đức, thiên hạ thái bình, muôn dân no đủ, bốn bề yên vui, phồn thịnh. Triệu Minh Vương vì ông có công nên ban cho một chiếc búa “phủ việt”, tỏ ý trường tồn cùng đất nước.

Đến khi Triệu Ai Vương lên nối ngôi, là một hôn quân vô đạo, ngày đêm vui chơi yến tiệc, không màng đến việc nước, ông (tức Lữ Lệ) đã nhiều lần can gián nhưng vua không tỉnh ngộ.

Bấy giờ, nhà Hán nghe tin Ai Vương bỏ bễ việc triều chính, bèn sai Lộ Bác Đức làm Phục ba tướng quân đem theo 20 vạn quân tinh nhuệ chia làm hai đạo thủy, bộ hòng chiếm lấy Nam Việt. Khi ấy vua mới hoảng sợ, sai Lữ Lệ đem theo 15 vạn quân tinh tráng đi chặn giặc, đại phá quân Hán ở Quế Lâm, rồi ở Diễn Châu. Giặc Hán thấy Lữ Lệ là bậc tướng tài, không thể dùng binh mạnh mà đánh được, bèn dùng kế phản gián, làm vua Triệu nghi ngờ và triệu ông về giữ thành Đại La, rồi cử làm Lệnh doãn Phong Châu. Vì thế 7 quận và kinh thành Giao Châu bị giặc chiếm mất, duy chỉ còn Phong Châu (tức Bạch Hạc) nhờ ông mà được yên ổn.

Nước Nam Việt đã mất, ông mưu tính việc khôi phục nên đem theo số nghĩa binh và chiêu mộ thêm vài nghìn người giữ vững miền thượng lưu sông Lô, cùng với hai phu nhân đóng doanh trại tại trang Nhân Mục. Dựa vào thế hiểm của hang Long Động trên núi Thét (xã Quang Yên, huyện Sông Lô) bí mật lẻn ra đánh tập kích quân Hán. Quân Hán mấy lần bị thua, buộc phải trở lại kinh thành. Thấy vậy, tướng Hán là Lộ Bác Đức sai người kết giao với bộ tướng của ông là Chu Năng, hứa rằng sau sẽ cho Năng làm Toàn Việt vương. Năng cùng quân Hán đánh lại ông ở bên sông Nhân Mục trên sông Lô, nhưng trận chẳng thành. Năng lại theo đường núi Lãng Sơn (núi Sáng) đánh úp, ông phải rút lui về bến Bạch Hạc (Phong Châu) đóng quân. Ngày hôm sau, Lộ Bác Đức đem quân đến vây, quân giặc bốn bề xông lên. Ngựa không còn dùng được, quân Việt tán loạn, chỉ còn một mình ông tả xung hữu đột, thế khó đương nổi.

Ông mới ngửa mặt lên giời than rằng:

Quân tâm phụ ngã dĩ hữu thiên tri?

Sơn hà bất tử anh hùng cốt

Quân thần tương hợp phục hà thời?

Nghĩa là:

Lòng vua nỡ phụ ta rồi, trời kia có biết?

Nắm xương người anh hùng không chết, còn với núi sông.

Đến lúc nào vua tôi mới lại được gặp nhau đây?

Nói xong, trời đất bỗng ban cho kiếm kích, ông đánh tiếp một hồi. Sau đó ông bị một viên tướng Hán chém một đao sát thương ngay trong trận. Hôm đó là ngày 10 tháng Năm, niên hiệu Thiên Hán thứ 2 (99 TCN). Tuy bị trúng thương nhưng Lữ Gia vẫn tả xung hữu đột, phá vòng vây, chạy đến thôn Lữ Chỉ, huyện Thiên Bản (nay thuộc tỉnh Nam Định), gặp một bà lão, ông mới hỏi rằng:

- Từ xưa đến nay người không đầu có sống được chăng?

Bà lão trả lời:

- Người ta sống được là nhờ thân thể được toàn vẹn. Chưa từng nghe thấy người không có đầu mà có thể sống được bao giờ!

Bà lão vừa dứt lời, từ trên mình ngựa, ông thét lên một tiếng, rồi nói :

Nhất ngôn phong đắc anh hùng cốt

Vạn cổ di lai hận lệ trường.

Nghĩa là :

Một lời nói đổ xương anh kiệt

Muôn năm mắt lệ hận còn dài.

Nói xong đổ gục ngay xuống chỗ đất ấy. Trong chốc lát mối đã đùn lên thành ngôi mộ lớn. Nhân dân thôn Lữ Chỉ dựng ngôi miếu thờ cúng ông. Người đời sau có thơ vịnh rằng:

Sinh vi danh tướng, tử vi trung thần.

Vạn cổ cương thường hệ nhất thân

Giang thượng thổ đôi thu nguyệt ảnh

Vãng lai nhân thuyết Lã công phần.

Nghĩa là:

Sống là danh tướng, chết làm trung thần

Muôn thủa cương thường một tấm thân

Gò đống trên sông trăng sáng tỏ

Người qua ngắm mãi Lã công phần

Truyền thuyết ở huyện Sông Lô kể lại rằng: Khi Lệ công chết trận, có một con chó ngao đã ngậm lấy đầu ông, chạy đến đầu núi trang Yên Thiết (tức núi Thét, huyện Sông Lô) liền bị thần núi ấy hiện lên lấy lại, chôn cất ở phía Nam núi ấy.  

Con chó ngao này vốn là một con vật được Lệ công rất yêu quý. Phàm mỗi khi hành quân hay dừng lại ở đâu, ông đều dắt theo chó ngao cùng đến đó. Vì thế khi ông bị chém, cảm nhớ ơn đức của ông, chó ngao đã ngậm lấy đầu ông mà chạy trốn đi, đến khi thần núi lấy lại, chôn cất ở phía Nam núi ấy, chó ngao tự vẫn mà chết. Ngày hôm ấy xã Yên Thiết lập miếu thờ phụng, gọi là đền Am, địa điểm ở xứ Gò Chùa, di tích đến nay hãy còn.

Lại nói, hai phu nhân của Lữ Lệ đem theo 300 quân theo đường sông Lô đến bến Thượng Nha huyện Phù Khanh rồi đỗ ở đấy. Đến ngày 30 tháng 5, bỗng thấy quân Hán kéo đến ngày một nhiều vây kín bến Thượng Nha. Thế giặc quá mạnh, biết không thể giải vây được, hai bà đã gieo mình xuống dòng sông Lô thuộc vùng đất Thượng Nha, huyện Phù Khang, tự tận.

Người đời sau cảm phục mà có thơ rằng:

Sinh vi tướng hĩ tử vi thần

Vạn cổ cương thường hệ cử nhân

Phu phụ nhất tâm đồng tử tiết

Lưu truyền từ miếu tại giang tân

Nghĩa là:

Sống làm danh tướng, chết làm thần

Muôn thủa cương thường giữ trọn thân

Chồng vợ một lòng gìn khí tiết

Lưu truyền đền miếu ở bên sông.

Để ghi nhớ công ơn của Lữ Gia và hai phu nhân, nhân dân ven sông Lô đã lập miếu phụng thờ. Hai thôn Thượng Nha và Hạ Nha, huyện Phù Khang lập đền thờ chính hai phu nhân (cúng giỗ vào ngày mồng 01 tháng Sáu âm lịch). Còn như đầu của ông từ khi chó ngao ngậm lấy, về sau máu chảy thấm những nơi chạy qua như tổng Nhân Mục, tổng Bạch Kỉ, Bạch Lưu... dân tất cả những nơi này đều lập đền miếu thờ phụng ông.

Nhân vật Quý Minh

Ông là người ở động Lăng Xương, huyện Thanh Châu, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây; sinh ngày 14 tháng Giêng năm Giáp Dần, hóa ngày 25 tháng Mười. Tục truyền rằng ông là người đã có công giúp Hùng Duệ Vương đánh đuổi nhà Thục, giữ yên bờ cõi đất nước,

Nguyên trước đây làng Nhân Lạc thờ Quý Minh tại miếu Ngoằng. Năm 1960, miếu bị phá, Nhân dân rước long ngai của ngài về thờ ở đình như ngày nay.

Đình Nhân Lạc là một công trình kiến trúc lớn, thể hiện phong cách truyền thống văn hóa dân tộc điển hình qua những mảng chạm khắc, trang trí có giá trị lịch sử - văn hóa độc đáo, với những mô-típ thời Sơ Nguyễn và thuộc loại di tích kiến trúc nghệ thuật.

Theo bản kê khai di tích xã Nhân Lạc, tổng Nhân Mục lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm mang kí hiệu AJ 1/9, những mảng chạm khắc trên thân bẩy, cốn nách và dòng chữ ghi trên câu đầu bên phải gian chính giữa (Thiệu Trị lục niên…tác tân) thì đình Nhân Lạc xưa được khởi dựng vào năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Đến tháng 7 năm 1920, đình Nhân Lạc được tu tạo lớn. Trên câu đầu bên phải của đình vẫn còn ghi sự kiện ấy: “Khải Định ngũ niên Canh Thân, tam nguyệt Canh Thìn, thập bát nhật Giáp Tý úy mộc, thất nguyệt Giáp Thân sơ cửu nhật Nhâm Tý, thân cuộc tu lý y cựu”. Trải qua thời gian, dưới tác động của môi trường tự nhiên và xã hội, nhiều phần kết cấu của ngôi đình cổ đã bị hư hỏng nặng. Năm 2008, Nhân dân địa phương đã hưng công góp của, tu sửa toàn bộ hậu cung, thay 3 cột cái, 4 cột quân (cột con) bằng bê tông cốt thép.

Kiến trúc và nghệ thuật chạm khắc

Bố cục đình Nhân Lạc gồm hai phần cơ bản: tòa đại bái và hậu cung.

Tòa đại bái của đình gồm ba gian hai dĩ, diện tích 105, 85m2. Toàn bộ kết cấu bộ khung đình làm bằng gỗ lim, các bộ vì kết cấu theo kiểu thức chồng rường giá chiêng, liên kết giữa bộ khung là cột, câu đầu, xà, hoành, kẻ bẩy và các con rường. Phía trên câu đầu là các con rường chồng nhau thông qua hai chiếc đấu đỡ đội trụ ngắn tạo thành giá chiêng để đỡ thượng lương (thanh nóc), các con rường đặt song song kéo ra bên được đặt trên con kê là các đấu vuông thớt đáy để đỡ hoành. Với phương pháp này đã tạo ra những khoảng trống, khiến cho ta có một cảm giác thưa thoáng mà vững chãi của bộ hệ thống khung đình. Liên kết từ cột cái ra cột quân là hệ thống xà nách, trên xà nách đặt những con rường theo tỷ lệ nhất định để tạo ra khoảng trống đặt hoành. Toàn bộ phần mái được xòe rộng ra bốn phía, lợp ngói mũi hài, chiếm khoảng 2/3 toàn bộ chiều cao của đình, với lối kiến trúc 4 mái, nhìn từ phía trước ta sẽ có một cảm giác bề thế, vững chãi mà nhẹ nhàng thanh thoát bởi sự cân đối hài hòa của phần mái và mặt tiền của ngôi đình.

Tòa hậu cung gồm 2 gian, diện tích là 28,5m2, được tu tạo bằng vật liệu mới, hệ thống cột bằng bê tông cốt thép, vì hoành và rui bằng gỗ, gian ngoài cùng của hậu cung được đổ sàn, tạo khán thờ cao 2,8m so với nền, xung quanh bưng gỗ kín, phía trong đặt ngai thờ và các đồ tế khí như bát hương, mâm bồng, cây nến… Kết cấu bộ vì theo kiểu vì suốt, mái lợp ngói mũi hài, nền lát gạch vuông đỏ.

Cùng với kiến trúc bề thế của ngôi đình, các nghệ nhân xưa còn để lại cho hậu thế những sản phẩm điển hình của nghệ thuật chạm khắc gỗ dân gian thế kỷ XIX với óc sáng tạo, tính thẩm mỹ cao, thể hiện khả năng tư duy trừu tượng và những nguyện ước về cuộc sống thanh bình của người Việt nói chung, cư dân vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ nói riêng, đã được những đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân dân gian tạo nên với những đường nét cực kỳ tinh xảo.

Các hiện vật trong di tích

Đình Nhân Lạc còn lưu giữ được một số lượng cổ vật quý giá, cụ thể gồm:

Đồ giấy

- Sáu sắc phong. Tuy nhiên các sắc phong không còn nguyên vẹn, bị hư hại, mủn nát rất nhiều.

- Một bản ngọc phả (gốc), có 16 trang, kích thước 0,40m x 0,25m

Đồ gỗ

- Một đôi câu đối, kích thước chiều dài 2,5m, rộng 0,26m, phiên âm như sau:

Kiều nhạc giáng thần phù Triệu phong vi long nhập mộng

Mộc miên hiển thánh phù Trần linh ứng hổ đằng không.

Nghĩa là:

Đẹp đẽ giáng thần giúp họ Triệu hiển linh trong mộng

Uy linh hiển thánh giúp nhà Trần ứng nghiệm nhẹ như không.

- Một mâm bồng, cao 0,4m, đường kính 0,5m

- Hai đòn kiệu bát cống, dài 3,6m

Hiện vật mới

- Một ngai thờ Tể tướng Lữ Gia, đặt ở chính giữa tầng 2 gian chính điện, cao 1,15m; rộng 0,56m. Trong ngai có bài vị ghi dòng thánh tâm “Nguyễn Triêu Lệ đại vương”

- Hai ngai nhỏ, thờ Quý Minh và Thổ thần, cao 0,80m; rộng 0,40m. Trên ghi dòng chữ “Quý Minh đại vương” và “Thổ thần đại vương”.

- Một hoành phi, kích thước 1,4m x 0,65m, khắc chữ “Đức Lưu Quang”

- Ba bát hương bằng gốm sứ, cao 0,20m, đường kính miệng 0,30m

Đình Nhân Lạc còn gắn liền với các lễ hội truyền thống của địa phương. Trong đó, vào ngày mùng 2 tháng Giêng, là tiệc cầu đinh, được dân làng tổ chức long trọng và quy mô hơn cả. Lễ hội kéo dài 2 ngày (phần lễ được tổ chức hàng năm; phần hội thì tổ chức vào năm lẻ), có đủ các thành tố của một lễ hội cổ truyền Việt Nam.

Đình Nhân Lạc đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa  cấp tỉnh theo quyết định số 200/QĐ-UBND ngày 21 tháng 01 năm 2009.

BBT

Ngày đăng: 18/01/2021